Viêm khớp vảy nến

11/10/2016 02:30
  1. Đại cương về viêm khớp vảy nến

Năm 1818, Alibert là người đầu tiên đã mô tả một bệnh nhân viêm khớp vẩy nến nhưng phải đến năm 1950 các biểu hiện lâm sàng của bệnh mới được đề cập đến một cách chi tiết.

Viêm khớp vẩy nến hiện được xếp vào nhóm bệnh lý cột sông huyết thanh âm tính. Bệnh biểu hiện bởi tổn thương da, viêm khớp ngoại biên không đối xứng, kèm tổn thương cột sống— cùng chậu, có 50% bệnh nhân có mặt kháng nguyên HLA—B27. Viêm khớp gặp ở 5 — 7% các bệnh nhân vẩy nến với tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữ như nhau. Tuổi mắc bệnh hay gặp nhất từ 30 — 55 tuổi.

2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân của bệnh vẩy nến và viêm khớp vẩy nến không rõ ràng. Kết quả của các nghiên cứu cho thấy: gen, môi trường và các yếu tố miễn dịch có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh.

Các yếu tốgen: viêm khớp vẩy nến có liên quan chặt chẽ với HLA—Cw6, HLA—B27, HLA—B16, HLA—DR4. Nguy cơ bị viêm khớp vẩy nến ở con của những bệnh nhân bị viêm khớp vẩy nến tăng gấp 50 lần so với người bình thưồng.

Các yếu tô môi trường: các yếu tô” môi trường có vai trò trong khởi phát bệnh viêm khốp vẩy nến bao gồm: nhiễm khuẩn, chấn thương cơ học. Có các bằng chứng cho thấy nhiễm trùng, đặc biệt nhiễm khuẩn liên cầu ở đường hô hấp trên là yếu tố gây khởi phát bệnh. Chấn thương cơ học có thể tạo ra các tự kháng nguyên hoặc các protein gây shock nóng (heat— shock protein) giống như kháng nguyên vi khuẩn.

Các yếu tố miễn dịch: trong viêm khớp vẩy nến, các tổn thương mô bệnh học ở da có biểu hiện giông với tổn thương ở màng hoạt dịch khớp và viêm các điểm bám gân, đó là: tăng sinh các tế bào màng hoạt dịch, thâm nhập các tế bào viêm (lympho T, đại thực bào, lympho B, bạch cầu đa nhân trung tính), tăng sinh các mạch máu. Các nghiên cứu cho thấy tế bào lympho T có vai trò quan trọng trong cơ chê bệnh sinh của bệnh. Viêm khớp vẩy nến là kết quả của sự tương tác giữa các tê bào lympho T, tế bào sừng, nguyên bào sợi, các tế bào màng hoạt dịch týp B (tê bào giông nguyên bào sợi) và týp A (tế bào giông như đại thực bào).

3. Triệu chứng học viêm khớp vảy nến

Triệu chứng lâm sàng viêm khớp vẩy nến

Viêm khớp vẩy nến có các biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, theo Moll và Wright (1973) bệnh được chia thành năm thể lâm sàng:

  • Thể viêm các khớp ngón xa ở tay và chân.
  • Thể viêm vài khớp (từ 4 khớp trở xuống), không có tính chất đốì xứng hai bên (chiếm 30 – 50% bệnh nhân viêm khớp vẩy nến).
  • Thể viêm nhiều khớp đối xứng hai bên tương tự như viêm khớp dạng thấp (hay gặp, chiếm 30 — 50% bệnh nhân viêm khớp vẩy nến).
  • Thể có biểu hiện tổn thương chủ yếu ở cột sông tương tự như triệu chứng của bệnh viêm cột sống dính khớp (chiếm khoảng 5%).
  • Thể viêm khớp (arthritis mutilans) : gây phá huỷ sụn khớp rất nhiều.

Trong quá trình tiến triển, bệnh có thể chuyển từ thể lâm sàng này sang thể lâm sàng khác, ở phần lớn các bệnh nhân bị vẩy nến (khoảng 70%), viêm khớp xuất hiện sau các tổn thương da và móng nhiều năm, chỉ có khoảng 15% viêm khớp xuất hiện cùng lúc với tổn thương da và móng; 15% các bệnh nhân còn lại, viêm khớp xuất hiện trước tổn thương da và móng, đặc biệt hay gặp ở trẻ em.

Khởi đầu, viêm khớp thường biểu hiện âm thầm nhưng cũng có thể tiến triển cấp tính, rầm rộ (khoảng 1/3 bệnh nhân). Các triệu chứng toàn thân thường nghèo nàn. Phần lốn các bệnh nhân có tiền sử gia đình bị bệnh vẩy nến.

  • Triêu chứng tai khớp
  • Thể viêm một khớp hoặc vài khớp ở ngoại vi không có tính chất đối xứng hai hên.

Thể này thường gặp nhất (khoảng 2/3 bệnh nhân). Biểu hiện bởi viêm một khớp lớn như khớp gối, kèm theo viêm một hoặc hai khớp ở ngón tay—ngón chân làm ngón bị sưng to lên có hình khúc dồi. Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân sẽ bị viêm các bao gân và viêm thêm nhiều khớp ngón gần hoặc ngón xa khác, ở một số bệnh nhân, viêm khớp có thể xảy ra sau các chấn thương dẫn đến chẩn đoán nhầm là viêm khớp do chấn thương.

  • Thể viêm nhiều khớp có tính chất đối xứng hai hên

Bệnh nhân bị viêm các khớp ở bàn tay, bàn chân, khớp cổ tay, cổ chân, gối, khuỷu. Viêm khớp có tính chất đối xứng hai bên giống viêm khớp dạng thấp nhưng trong viêm khớp vẩy nến, bệnh nhân thường bị viêm ở các khớp ngón xa nhiều hơn dẫn đến cứng khớp ở các khớp ngón gần và ngón xa làm cho bệnh nhân có bàn tay vuốt thú hoặc bàn tay hình mái xuồng.

ở những bệnh nhân bị viêm nhiều khớp ở chi, đối xứng hai bên, có vẩy nến, có RF dương tính nhưng không có viêm khớp cùng chậu, viêm khớp ngón xa, viêm điểm bám gân. Có thể bệnh nhân bị đồng thời cả hai bệnh viêm khớp vẩy nến và viêm khớp dạng thấp, tuy thể này rất hiếm.

.Viêm khớp kiểu “ngón chân hình khúc dồi”

  • Thể hủy khớp (arthritis mutilans)

Thể này hiếm gặp, khoảng 5%. Biểu hiện bởi huỷ xương ở các xương đốt ngón và xương bàn tay, các xương ở bàn chân cũng có thể gặp, nhưng hiếm hơn. Đây là tôn thương điển hình của bệnh viêm khớp vẩy nến.

Huỷ xương ỏ các xương đốt ngón và xương bàn chân (Thể hủy khớp -arthritis mutilans)

  • Thể cột sống: thể này gặp ở cả hai giới nam và nữ với tỷ lệ như nha Mặc dù các tổn thương ở cột sông xảy ra độc lập với viêm các khớp ngoại vi nhưng các biểu hiện lâm sàng do tổn thương cột sống thường xuất hiện sau viêm khớp ngoại vi không đối xứng khoảng vài năm

Bệnh nhân đau vùng cột sống thắt lưng hoặc cột sống ngực, đau kiểu viêm, đau âm thầm mặc dù các tổn thương trên phim Xquang rất điển hình. Viêm đốt sông đĩa đệm có thể gặp ở tất cả các đoạn của cột sống. Ó một số ít, bệnh nhân có thể bị bán trật khớp giữa đốt đội và trục do tổn thương cột sốhg cổ.

Viêm khốp cùng chậu gặp ở 1/3 bệnh nhân viêm khớp vẩy nến và thường viêm một bên.

Một thể lâm sàng có thể gặp là bệnh nhân bị đồng thời cả viêm khớp vẩy nến và viêm cột sống dính khớp. Bệnh nhân có HLA-B27 dương tính, vẩy nến, viêm mống mắt, viêm khớp cùng chậu hai bên, tổn thương cột sống bắt đầu từ khớp cùng chậu tiến triển lên đến cột sống cổ và không có viêm các khớp ngoại vi.

  • Các hiểu hiên lâm sàng khác

Bệnh nhân có thể có viêm các điểm bám gân, thường gặp viêm gân Achille và viêm điểm bám gân của gân vùng gan chân vào xương gót. Viêm điểm bám gân thường hay gặp ở thể viêm vài khớp không đối xứng hai bên.

Một sô” tổn thương khác hiếm gặp như: viêm màng bồ đào, xơ phổi kẽ, nhiễm bột thận.

Biểu hiện ngoài da: trong bệnh vẩy nến, tổn thương da cơ bản là những ban đỏ, nổi cộm lên, gò cao hơn mặt da, ranh giới rõ, có vẩy dày nhiều lớp màu bạc— dễ bong. Các ban đỏ thường xuất hiện ở mặt duỗi của khớp khuỷu, khớp gối, tai, da đầu, vùng trên xương cùng nhưng cũng có thể gặp ở bất cứ vị trí nào trên cơ thể. Khi cạo nhẹ vào các ban đỏ gây chảy máu (dấu hiệu Auspitz).

Kích thưốc của các ban đỏ không đồng nhất, ỏ giai đoạn sớm khoảng lmm, khi bệnh tiến triển ban khoảng vài centimet.

Tổn thương móng: các tổn thương móng là biểu hiện lâm sàng duy nhất giúp phát hiện các bệnh nhân vẩy nến có nguy cơ bị viêm khớp trong tương lai.

Các tổn thương điển hình của móng gồm: bong móng, móng có các khía dọc và dễ gãy, mất độ bóng, móng bị dày lên và có màu vàng bẩn (dấu hiệu giọt dầu).

Triệu chứng cận lâm sàng viêm khớp vẩy nến

Chẩn đoán hình ảnh

  • Xquang các khớp tổn thương

Tổn thương xương khớp trong bệnh vẩy nến trên Xquang gồm: huỷ xương dưới sụn, khe khớp hẹp, phì đại xương do viêm màng xương ở thân xương và xương dưối sụn.

  • Xquang các khớp bàn tay

+ Tăng đậm độ cản quang ở phần mềm quanh khớp do sưng phần mềm quanh khớp nhưng không có tính chất đối xứng hai bên và không có mất chất khoáng ở xương.

+ Phì đại ở thân xương ngón xa và huỷ xương ở đầu của xương này.

+ Khe khớp hẹp nhiều, dính khớp cùng vối đầu xương ngón gần bị thon nhỏ dần và phì đại xương ngón xa tạo nên hình ảnh bút chì cắm trong cốc.

+ Huỷ xương không đối xứng có thể gặp ở: khôi xương cổ tay, khớp bàn ngón, khớp ngón gần, khớp ngón xa nhưng thưồng xuất hiện sớm nhất ỏ khớp ngón xa.

+ Các tổn thương khớp ở bàn tay gặp nhiều gấp đôi ở bàn chân.

  • Xquang bàn chân

+ Huỷ xương và phì đại xương thường gặp ở khớp bàn ngón chân và khớp của ngón chân, hay gặp nhất ở khớp ngón của ngón chân cái.

+ Kết đặc xương và màng xương có thể làm tăng độ cản quang của xương ngón chân, cùng vối sự phì đại xương tạo nên hình ảnh xương ngà voi. Đây là hình ảnh đặc hiệu của viêm khớp vẩy nến nhưng hiếm gặp.

 

Khi ỏ giai đoạn sớm, viêm khớp cùng chậu có thể chỉ biểu hiện một bên, song ở giai đoạn toàn phát thường có viêm và dính khớp cùng chậu ở cả hai bên.

  • Xquang cột sống

Có thể xảy ra độc lập hoặc kết hợp với viêm khớp cùng chậu. Biểu hiện bởi sự huỷ xương ở bề mặt của thân đốt sống, có thể có các cầu xương kích thước lớn không đồng đều ở bất kỳ đoạn nào của cột sống do calci hoá dây chằng.

  • Siêu âm phần mềm

Siêu âm có giá trị trong chẩn đoán viêm các điểm bám gân (đặc biệt viêm điểm bám của gân Achille) và ngón tay—ngón chân hình khúc dồi.

  • Các xét nghiệm
  • Biểu hiện viêm ở máu và dịch khớp.
  • HLA B27 (+).
  • RF: dương tính khoảng 10% số bệnh nhân viêm khóp vẩy nến.
  • Kháng thể kháng nhân: thường âm tính.
  • Acid uric: khoảng 10 — 20% sô” bệnh nhân viêm khớp vẩy nến có tăng acid uric; mức độ tăng acid uric có mốỉ liên quan với mức độ tổn thương da.

thoai hoa cot song lung uong thuoc gi

thoai hoa dot song co uong thuoc gi

bệnh thoái hóa đốt sống lưng