Viêm đĩa đệm đốt sống do vi khuẩn

12/10/2016 09:24
  1. Đại cương

Định nghĩa: viêm đĩa đệm đốt sống nhiễm khuẩn (septic spondylitis) là tổn thương viêm tại đĩa đệm đốt sống gây nên bởi vi khuẩn thường. Định nghĩa này loại trừ viêm đĩa đệm đốt sông do vi khuẩn lao (bệnh Pott). Bệnh có thể khỏi hoàn toàn nếu được chẩn đoán sớm, điều trị kháng sinh đúng. Giai đoạn muộn, có thể chèn ép thần kinh, gây liệt.

Nguyên nhân gây bệnh: vi khuẩn thường gặp là tụ cầu — Staphyỉococcus, đặc biệt là tụ cầu vàng – s. aureus (60%); sau đó là Enterobacteriaceae (20%). Thường xảy ra sau các thủ thuật tại vùng cột sống như tiêm cạnh cột sông, tiêm khớp liên mỏm gai, chọc hút sinh thiết hoặc đổ xi măng (ciment) tại đốt sông… hoặc nội soi vùng sinh dục tiết niệu.

2. Giải phẫu cột sống, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Giải phẫu cột sống và các thành phần liên quan

Cột sống được cấu tạo từ 32 hoặc 33 đốt sông và được chia thành năm đoạn theo chức năng đó là đoạn cổ, đoạn lưng, đoạn thắt lưng, đoạn cùng, đoạn cụt. Các đốt sống nằm chồng lên nhau và đệm giữa các thân đốt sống là các đĩa đệm gian đốt sống, riêng giữa CI- CII và đoạn cùng, cụt không có đĩa đệm.

  • Đặc điểm chung của các đốt sống

Cấu tạo của một thân đốt sống gồm có các thành phần sau:

Thân đốt sống: là một khối xương ỏ phía trước, hình trụ dẹt có hai mặt và một vành xung quanh. Hai mặt của thân đốt sông sẽ tiếp khớp với các thân đốt sống trên và dưới qua đĩa đệm. Phía trước và phía sau thân đốt sông có dây chằng dọc trước và dây chằng dọc sau chạy qua.

Cung đốt sống: là mảnh xương cong ở phía sau thân đốt sống. Một cung gồm có: phía sau rộng dẹt gọi là mảnh cung đốt sống và hai cuống cung đốt sống. Cuông cung đốt sống là phần trưốc cung dính vào thân đốt sông. Bờ trên và dưới của mỗi cuống đều lõm gọi là khuyết sống trên và dưới. Khi hai đốt sống khớp vối nhau thì các khuyết này hợp thành lỗ gian đốt sống, có các dây thần kinh sông và các mạch máu đi qua.

Các mỏm: mỗi đốt sông có 7 mỏm đều từ cung đốt sông tách ra, đó là một mỏm gai, 2 mỏm ngang và 4 mỏm khớp.

Lỗ đốt sống: giới hạn bởi mặt sau thân đốt sống và mặt trước cung sống. Khi các đốt sống chồng lên nhau tạo thành cột sông thì các lỗ này hợp thành ông sống có tuỷ sống nằm ở trong.

Đĩa gian đ&Psống: mỗi đĩa đệm là hình thấu kính hai mặt lồi, cấu tạo bởi hai phần: Phần chu vi hay vòng sợi gồm nhiều vòng sợi đồng tâm và rất chun giãn; Phần giữa có một nhân keo là di tích của dây sống. Nhân keo cũng rất đàn hồi, có xu hướng phình ra theo chiều đứng dọc, có thể giảm nhẹ các va chạm, chấn động của các đốt sống.

Các thành phần liên kết giữa các mỏm của cột sống: có dây chằng gian mỏm gai, dây chằng gian mỏm ngang và bao khớp càng xuống thấp càng chắc và được tăng cường bởi dây chằng vàng, dây chằng dọc sau.

  • Tuỷ sông

Nằm trong ông sông, từ bờ trên của đốt sống cổ I đến bờ dưới của đốt sống thắt lưng I hoặc bò trên của đốt sống thắt lưng II. Do chiều dài của tuỷ ngắn hơn chiều dài của cột sông nên các khoanh tuỷ không khớp vối đốt sông tương ứng.

  • Mạch máu

Các đốt sông được nuôi dưỡng bởi các động mạch tách ra từ động mạch chủ. Mỗi động mạch này nuôi dưỡng nửa trên và nửa dưới của hai đốt sống kề nhau. Đĩa đệm của đốt sống không có mạch máu. Đĩa đệm được nuôi dưỡng bằng thẩm thấu từ lớp xương xốp dưới lốp sụn của thân đốt sống.

Vi khuẩn gây bệnh

Các vi khuẩn sinh mủ gây viêm đĩa đệm đốt sống: trước kia, vi khuẩn thương hàn được coi là nguyên nhân gây bệnh kinh điển, nhưng ngày nay hầu như không gặp nữa. Hiện nay nguyên nhân chủ yếu là do tụ cầu vàng (60%), sau đó Enterobacteriaceae(20%), liên cầu da, trực khuẩn mủ xanh và serretia.

Cơ chế bệnh sinh

  • Yếu tố thuận lợi: bệnh rất thường gặp ở đối tượng có suy giảm miễn dịch như dùng corticoid kéo dài, đái tháo đường, nhiễm HI
  • Cơ chế gây viêm đĩa đệm đốt sống do vi khuẩn mủ

Vi khuẩn sinh mủ đến gây tổn thương tại đốt sống và đĩa đệm có thể theo ba con đường chính: đường kế cận đó là ổ nhiễm khuẩn gần cột sống như mụn nhọt, viêm cơ, áp xe cơ, viêm ở bộ phận sinh dục tiết niệu… theo đường tĩnh mạch hoặc bạch huyết lan vào cột sông; hoặc vi khuẩn được trực tiếp đưa vào đốt sống đĩa đệm do thầy thuốc như các can thiệp vào vùng cột sông như tiêm và chọc hút vào cột sống, các phẫu thuật ở vùng cột sống trong điều kiện khử khuẩn không tốt. Con đưòng nữa là theo con đường toàn thân, viêm đĩa đệm đốt sống trong bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết.

Vi khuẩn sinh mủ gây tổn thương sớm nhất ở phần đĩa đệm sau đó mối xâm nhập sang thân đốt sống và các phần xung quanh. Do vi khuẩn này giải phóng ra các enzym làm tiêu huỷ nhân nhầy.

Các biến chứng của viêm đĩa đệm đốt sống: áp xe được tạo ra do sự lan tràn của mủ từ nơi tổn thương tới gây viêm dây chằng và phần mô mềm kê cận. Chèn ép tuỷ sông bởi áp xe ngoài màng cứng, xương chết, mảng mục của đĩa đệm, áp xe phần mềm.

Tổn thương giải phẫu đốt sống do vi khuẩn sinh mủ

Tổn thương hay gặp ở đoạn cột sống lưng, thắt lưng. Tổn thương chủ yếu là huỷ đốt sống và đĩa đệm.

Viêm mủ có đặc điểm là phản ứng huyết quản và xâm nhập bạch cầu tăng nhanh chủ yếu là bạch cầu đa nhân. Các bạch cầu đa nhân bị thoái hoá sẽ tạo thành mủ. Kích thưốc của những tổn thương thay đổi từ những vi áp xe kín đáo dần to hơn. Tổn thương phá huỷ mức độ nào tuỳ thuộc vào vị trí của tổn thương và loại vi khuẩn.

thuoc dieu tri viem khop

thoai hoa dot song co uong thuoc gi

bệnh thấp khớp