Viêm cột sống dính khớp và nhóm bệnh lý cột sống huyết thanh âm tính

11/10/2016 02:07
  1. Đại cương về bệnh viêm cột sống dính khớp và nhóm bệnh lý cột sống huyết thanh âm tính

Đại cương về nhóm bệnh lý cột sống huyết thanh âm tính

Bệnh viêm cột sông dính khớp là một bệnh khớp viêm mạn tính thường gặp, hiện được xếp vào nhóm bệnh lý cột sống huyết thanh âm tính. Nhóm này bao gồm một sô” bệnh được đặc trưng bởi sự kết hợp giữa hội chứng cùng chậu cột sông, hội chứng bám tận (viêm các gân bám tận tại xương), và hội chứng ngoài khớp ở các mức độ khác nhau, có yếu tô” thuận lợi là cơ địa di truyền, biểu hiện bằng sự xuất hiện các trường hợp có tính chất gia đình và sự có mặt của kháng nguyên phù hợp tổ chức HLA- B 27. Tổn thương cơ bản của nhóm bệnh này là tổn thương viêm, calci hoá tại gân và dây chằng trên xương. Có một sô” tổn thương định khu ở các nội tạng như mắt, da, van động mạch chủ. Có thể bệnh trung gian giữa các bệnh trong nhóm.

Nhiều tác giả ủng hộ giả thuyết về cơ chê” khởi phát bệnh viêm cột sống dính khớp cũng như các bệnh khác trong nhóm là nhiễm khuẩn (Chlamydia Trachomatis, Yersina, hoặc Salmonella…) trên một cơ địa di truyền (sự có mặt của kháng nguyên HLA-B27, tiền sử gia đình có người mắc các bệnh trong nhóm bệnh lý cột sống huyết thanh âm tính). Nguy cơ mắc bệnh có liên quan đến tần suất có mặt kháng nguyên HLA-B27, tuy nhiên ở mỗi bệnh có nguy cơ tương đối khác nhau.

Mô”i liên quan giữa tần suất có mặt kháng nguyên HLA—B27 và nguy cơ mắc bệnh tương đô”i trong nhóm bệnh lý cột sống huyết thanh âm tính.

Tên bệnh                               Có mặt HLA-B27 Nguy cơ mắc bệnh tương đô”i

Viêm cột sông dính khớp 90% 90
Hội chứng Reiter 60 – 70% 41
Viêm khớp phản ứng 40 – 60% 20
Viêm khớp vẩy nến 30 – 40% 10
Bệnh Crohn 20% 5-10

Bệnh không liên quan đến các yếu tô” tự miễn như yếu tô” dạng thấp, hoặc kháng thể kháng nhân như trong các bệnh mô liên kết (bệnh collagenose) khác. Do đó, bệnh còn có tên là nhóm bệnh lý cột sông huyết thanh âm tính.

Các bệnh thuộc nhóm bệnh lý cột sống huyết thanh âm tính.

  • Viêm cột sống dính khớp và thể viêm cột sống dính khớp của viêm khớp tự phát thiếu niên.
  • Viêm khớp vẩy nến.
  • Bệnh viêm khớp phản ứng (hội chứng Fiessingger—Leroy—Reiter) và nhóm bệnh tương tự.
  • Bệnh đường ruột do thấp mạn tính: viêm đại tràng trực tràng chảy máu, bệnh Crohn, bệnh Whipple.
  • Viêm màng bồ đào và một sô” bệnh hiếm gặp khác.

Các tiêu chuẩn chẩn đoán nhóm bệnh lý cột sông.

Gồm tiêu chuẩn xếp loại các bệnh lý cột sống của Nhóm nghiên cứu bệnh lý cột sống châu Âu và tiêu chuẩn chẩn đoán nhóm bệnh lý cột sông của Amor- 1991. Hiện nay, tiêu chuẩn Amor có xu hướng được áp dụng rộng rãi hơn. Có thể chẩn đoán nhóm bệnh lý cột sống dựa trên hai tiêu chuẩn xếp loại trên. Các bệnh trong nhóm được coi là “dưới nhóm”.

  • Tiêu chuẩn xếp loại các bệnh lý cột sống của nhóm nghiên cứu bệnh lý cột sống châu Au

Tiêu chuẩn xếp loại các bệnh lý cột sống của nhóm nghiên cứu bệnh lý cột sống châu Âu gồm các yếu tô” sau:

Đau cột sống kiểu viêm hoặc viêm màng hoạt dịch có tính chất không đôi xứng hoặc chiếm ưu thê” ở chi dưới; kèm theo ít nhất một triệu chứng sau:

+ Tiền sử gia đình bệnh lý cột sông hoặc viêm màng bồ đào hoặc bệnh lý ruột.

+ Vẩy nến.

+ Viêm ruột.

+ Viêm dây chằng.

+ Viêm khớp cùng- chậu trên Xquang.

  • Tiêu chuẩn chẩn đoán nhóm bệnh lý cột sống theo Amor 1991.

Tiêu chuẩn chẩn đoán nhóm bệnh lý cột sông theo Amor 1991 dựa trên sự khảo sát 12 yếu tô” thuộc các triệu chứng lâm sàng tại thời điểm khám bệnh nhân và tiền sử bệnh, tổn thương Xquang khớp cùng chậu, cơ địa di truyền, và mức độ đáp ứng với thuốc chống viêm không steroid. Cụ thể như bảng dưới đây.

Tiêu chuẩn chẩn đoán nhóm bệnh lý cột sống theo Amor 1991

A. Các triệu chứng lâm sàng và tiền sử Điểm
1 Đau cột sống thắt lưng về đêm và/hoặc cứng cột sống lưng/thắt lưng vào buổi sáng 1
2 Viêm môt vài khớp không đối xứng 2
3 Đau mông không xác đinh, đau mông lúc bên phải lúc bên trái. 1-2
4 Ngón chân nqón tay hình khúc dổi 2
5 Đau gót hoăc các bênh lý bám tận khác 2
6 Viêm mô’ng mắt 2
7 Viêm niệu đạo hoặc cổ tử cung không do lậu cầu trước đó dưới một tháng trước khi khởi phát viêm khớp 1
8 Có đơt tiêu chảy xảy ra trong vòng môt tháng trước khi xuất hiện viêm khớp 1
9 Hiên tai hoăc tiền sử vẩy nến và/hoăc viêm quy đầu và/hoặc có bệnh lý ruột 2
B. Dâu hiệu Xquang
10

Viêm khớp cùng chậu

Viêm cả hai bên ở giai đoan 2 hoăc viêm môt bên ở giai đoạn 3

3
c. Cơ địa di truyền
11 HLA B27 và/hoặc Tiền sử gia đình có Viêm cột sống dính khớp, hội chứng Reiter, viêm khớp vẩy nến, viêm màng bồ đào, hoặc viêm ruột mạn 2
D. Đáp ứng với điều tri
12 Đau thuyên giảm trong 48h khi dùng thuốc chống viêm không steroid và/hoặc tái phát đau nhanh trong vòng 48h khi ngừng thuốc chống viêm không steroid 1
Chẩn đoán bệnh lý cột sống khi đạt > 6 điểm thuộc tiêu chuẩn

Tuy nhiên, để hiểu rõ các bệnh trong nhóm, chúng tôi trình bày một scí bệnh thường gặp: viêm cột sống dính khớp, bệnh viêm khớp phản ứng và viêm khốp vẩy nến.

Đại cương về bệnh viêm cột sống dính khớp

Bệnh viêm cột sống dính khớp là một bệnh khớp viêm mạn tính, không rõ nguyên nhân. Bệnh còn có tên là bệnh Marie—Strumpell. Tỷ lệ bệnh trên thế giới vào khoảng 0,1-1% dân số (Phần Lan: 0,15%; Mỹ: 0,25% Pháp: 0,3%; Đức 0,86%). Bệnh chiếm tỷ lệ 15,4% trong các bệnh nhân khớp điều trị nội trú tại khoa Cơ Xương Khớp Bệnh viện Bạch Mai, và 0,28% trong cộng đồng dân cư Bắc Việt Nam trên 16 tuổi, gặp nhiều ở nam giới (90%), trẻ (90% dưới 30 tuổi), có tính chất gia đình rõ. Bệnh có mối liên quan chặt chẽ nhất vối sự có mặt của HLA B27 so với các bệnh trong nhóm (nguy cơ mắc bệnh viêm cột sông dính khớp gấp từ 52 đến 90 lần so với người không mang HLA B27 tùy nghiên cứu). Có 87% bệnh nhân viêm cột sống dính khớp Việt Nam mang kháng nguyên HLA B—27 so vối 4% trong nhân dân. Tổn thương cơ bản của bệnh: lúc đầu là xơ teo, sau đó là calci hoá dây chằng, bao khớp, và có kèm theo viêm nội mạc các mao mạch. Nguyên nhân: có nhiều bằng chứng có liên quan đến sự nhiễm Enterolytica Yersinia hoặc Chlamydia Tracomatis.

Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh viêm cột sống dính khớp

Có nhiều giả thiết về nguyên nhân và cơ chê bệnh sinh của bệnh viêm cột sông dính khớp. Nhiều tác giả ủng hộ cơ chế nhiễm khuẩn (Chlamydia Trachomatis, Yersina, hoặc Salmonella…) trên một cơ địa di truyền (sự có mặt của kháng nguyên HLA—B27, tiền sử gia đình có người mắc các bệnh trong nhóm bệnh lý cột sống huyết thanh âm tính) dẫn đến khởi phát bệnh viêm cột sông dính khốp cũng như các bệnh khác trong nhóm. Trên cơ sở đó, xuất hiện các phản ứng miễn dịch, phản ứng viêm có sự tham gia của cytokines như TNF—a… dẫn đến tổn thương gân, dây chằng, tại điểm bám tận, viêm bao hoạt dịch… Giai đoạn sau là xơ hoá, calci hoá các dây chằng, bao khớp, có hủy sụn khớp. Trên lâm sàng biểu hiện bởi hạn chế vận động (cứng cột sống và khớp) nhanh chóng.

thuoc chua benh thoai hoa cot song

thoai hoa cot song la gi

thoai hoa cot song that lung nen an gi