Viêm cơ do vi khuẩn

12/10/2016 09:35

Đại cương

Viêm cơ do vi khuẩn sinh mủ hoặc viêm cơ nhiễm khuẩn (septic myositis) là tổn thương viêm hoặc áp xe tại cơ vân do vi khuẩn gây nên. Định nghĩa này loại trừ các viêm cơ vô khuẩn, do cơ chế tự miễn trong các bệnh hệ thống (Polymyositis, Dermatomyositis…).

Nguyên nhân gây bệnh: vi khuẩn gây viêm cơ thường gặp là tụ cầu – Staphyỉococcus, đặc biệt là tụ cầu vàng— S.aureus; Liên cầu nhóm A — Streptococcus. Vi khuẩn Gram âm (trực khuẩn mủ xanh), hoặc các vi khuẩn yếm khí khác ít gặp hơn. Đường vào thường tại chỗ (qua các nhiễm khuẩn ở da…) hoặc toàn thân (qua đường máu).

Giải phẫu vơ vi khuẩn gây bệnh và cơ chế bệnh sinh

  1.  Giải phau cơ vân và các thành phần liên quan

Viêm cơ nhiễm khuẩn là bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn ở các cơ vân, nên trong phần này chỉ đề cập đến giải phẫu cơ vân.

Cấu tạo chung của cơ vân

Cơ vân còn gọi là cơ xương hay cơ vận động theo ý muốn, có khoảng > 500 cơ. Các cơ khác nhau về hình dạng, kích thước, về vị trí, hưống sợi bám, chỗ bám và động tác. Cấu trúc cơ vân gồm hai phần là bụng cơ và phần gân.

Bụng cơ (hoặc phần thịt cơ): do các sợi cơ và thành phần mô liên kết tạo nên. Các sợi cơ xếp thành từng bó sợi chạy song song với nhau. Mỗi bó sợi cơ gồm nhiều sợi cơ dài chạy suốt chiều dài của bó và những sợi ngắn nối đầu với nhau để chạy suốt chiều dài của nó. Phần mô liên kết của bụng cơ bao gồm ba màng: Màng sợi cơ là bao mô liên kết bọc xung quanh mỗi sợi cơ và những đầu nối tiếp giữa các sợi cơ. Màng chu cơ là bao mô liên kết dày hơn bọc mỗi bó sợi cơ. Màng ngoài cơ là bao mô liên kết bao toàn bộ cơ.

Mạc cơ: ở giữa cơ và da, có một lớp liên kết gọi là mạc gồm có hai phần, phần đặc nằm sâu sát màng ngoài cơ gọi là mạc sâu, phần lỏng lẻo (chứa mỡ) ở ngay dưới da là mạc nông.

Gân: mô liên kết bao quanh các bó cơ, các sợi cơ và toàn bộ cơ kéo dài vượt quá chiều dài các sợi cơ để trở thành phần gắn vào xương hay cấu trúc khác gọi là gân. Thường gân là các sợi trắng bóng. Những gân rộng và dẹt gọi là cân. Hầu hết các cơ bám xương hoặc sụn, một số cơ có đầu bám vào da (cơ mặt), cơ bám vào niêm mạc (cơ lưõi), cơ bám vào mạc (cơ căng da đùi), một số cơ chạy vòng tròn gọi là cơ thắt… Trừ những cơ thắt, các cơ còn lại đều có hai đầu nguyên ủy và bám

tận, đầu nguyên ủy là đầu bám cô” định hơn, đầu bám tận là đầu bám di động hơn. Có một số cấu trúc tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển của các gân cơ đó là bao xơ của gân, các hãm gân, các túi hoạt dịch và các bao hoạt dịch.

Cơ thắt lưng chậu và các phần liên quan: đây là khối cơ cũng thưòng bị viêm. Cơ này cũng có cấu tạo chung như những cơ vân khác song lại có liên quan đến nhiều bộ phận trong cơ thể như cột sống thắt lưng, các cơ quan trong ổ bụng, hệ tiết niêu-sinh dục. Do vậy, khi cơ này tổn thương thường có các triệu chứng của các tổn thương cơ quan lân cận kèm theo.

  • Mạch máu và thần kinh

Nhánh thần kinh đi đến mỗi cơ là một hỗn hợp gồm cả sợi vận động (khoảng 60%), sợi cảm giác (40%) và một sô” sợi giao cảm giúp chi phối các mạch máu nuôi cơ. Mạch máu nuôi cơ được tách ra từ các mạch máu lớn sau đó chia thành các mạch máu nhỏ đi vào từng cơ.

  1. Vi khuẩn gây bệnh

Các loại vi khuẩn gây viêm cơ thường gặp là tụ cầu (Staphylococcus), đặc biệt là tụ cầu vàng (S. aureus), liên cầu (Steptococcus), vi khuẩn Gram âm như trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa). Các vi khuẩn kỵ khí ít gặp hơn.

Viêm cơ nhiễm khuẩn do tụ cầu vàng thường gặp nhất, tỷ lệ mắc bệnh do tụ cầu vàng 75% – 95%, hay gặp ỏ vùng nhiệt đới và ít khi biết rõ được đường vào.

Hoại thư sinh hơi thường xảy ra sau khi bị vết thương đâm xuyên nặng, có dính đất vào vết thương. Những trường hợp hoại thư sau chấn thương này thường do clostridium gây ra, trong các chủng clostridium phân lập được c. Períringens chiếm 80—95% các trường hợp, c. Novyi chiếm 10 — 40% và c. Sep Tticum chiếm 5 -15%. Dạng hiếm gặp là hoại thư muộn sau khi bị vết thương xuyên nhiều khả năng do bào tử nằm lại trong vết thương cũ. Hoại thư tự phát không do chấn thương gặp trên những bệnh nhân có giảm bạch cầu, bệnh ác tính đường ruột, túi thừa hoặc sau chiếu phóng xạ vùng bụng, loại này thường do c. Septicum gây ra, loại vi khuẩn kỵ khí này có khả năng chịu được oxy, điều đó giải thích tại sao c. Septicum có thể gây bệnh tự phát trong các tổ chức bình thường của cơ thể.

Viêm cơ do liên cầu nhóm A hiếm gặp, có đặc điểm đau dữ dội, dấu hiệu viêm tại chỗ rõ rệt. Bệnh cảnh lâm sàng của thể này thường có nhiễm khuẩn huyết, tiến triển lâm sàng rất nhanh và kịch liệt, tỷ lệ tử vong rất cao, cần phẫu thuật cắt lọc và dùng penicillin. Hoại thư do liên cầu tan máu có thế xảy ra sau chấn thương hoặc phẫu thuật hoặc có đường vào thật sự.

  1. Yếu tố cơ địa
  • Suy giảm chức năng của hệ thống miễn dịch: viêm cơ nhiễm khuẩn được tìm thấy ở những bệnh nhân có các yếu tô” làm suy giảm chức năng của hệ thông miễn dịch. Bệnh nhân bị đái tháo đường (thường gặp ở những bệnh nhân kiểm soát đường máu không tô”t, song ngay cả những bệnh nhân có kiểm soát đường

máu tốt vẫn có thể mắc viêm cơ nhiễm khuẩn). Những người có suy giảm miễn dịch cơ thể như nhiễm HIV, mắc các bệnh hệ thống hoặc bệnh khớp mạn tính phải điều trị bằng corticoid hoặc các thuốic ức chê miễn dịch khác (ví dụ như methotrexat…), những người suy kiệt, những bệnh nhân có bệnh lý ác tính: bệnh bạch cầu cấp, các bệnh lý ung thư….

  • Chịu các thủ thuật không đảm bảo vô khuẩn: cấc bệnh nhân được điều trị châm cứu, tiêm nội khớp, tiêm bắp, lạm dụng thuốc theo đường tĩnh mạch…. Nếu các thủ thuật không đảm bảo vô khuẩn sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn từ da xâm nhập vào cơ và gây viêm cơ nhiễm khuẩn. Trường hợp này nếu xảy ra trên các bệnh nhân mắc bệnh khớp nêu trên, hiện tượng suy giảm miễn dịch cơ thể là yếu tô” thuận lợi thêm vào.
  • Thiếu các vitamin: viêm cơ nhiễm khuẩn còn liên quan đến sự thiếu thiamin, bệnh Scorbut (thiếu vitamin C), bệnh Beri-Beri (thiếu vitamin Bl).
  1. Cơ chế bệnh sinh của viêm cơ nhiễm khuẩn

Cơ chế bệnh sinh của viêm cơ nhiễm khuẩn chưa thật rõ ràng. Có hai đường vào của vi khuẩn: đường tại chỗ (qua các nhiễm khuẩn ngoài da, do viêm khớp nhiễm khuẩn kế cận, do viêm tổ chức phần mềm bên cạnh…) và đường máu (liên quan đến các bệnh toàn thân).

Một sô” tác giả thấy rằng nếu chỉ có vi khuẩn trong máu thôi cũng chưa đủ điều kiện gây viêm cơ hay tạo ổ áp xe. Một thí nghiệm kinh điển chứng minh điều này là tiêm vào tĩnh mạch động vật một liều thấp (liều không gây chết) tụ cầu vàng, thấy không có viêm cơ hay áp xe cơ xảy ra, viêm cơ chỉ xảy ra cho tới khi các cơ bị tổn thương do chấn thương, do sốc điện hay thiếu máu cơ cục bộ.

Chấn thương với những cơ bị tổn thương gây ra sự thay đổi trong cấu trúc cơ, được cho là một cơ chế quyết định gây viêm cơ nhiễm khuẩn. Một sô” tác giả cho rằng chấn thương làm thay đổi các cấu trúc cơ cục bộ, tạo ra các “tổ” cho vi khuẩn làm tô và phát triển. Bệnh nhân có tiền sử chấn thương có thể gây viêm cơ nhiễm khuẩn sau đó vài ngày đến vài tuần.

Vói kết quả của những thí nghiệm, nhiều tác giả cho rằng, viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ xuất hiện khi mà có đủ hai yếu tô” là có vi khuẩn gây bệnh và cơ bị tổn thương, tổn thương cơ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, làm “tổ”, phát triển và gây bệnh.

đau lưng khi ngủ dậy

cách chữa đau lưng tại nhà

thuoc tri dau lung hieu qua nhat