Triệu chứng thoái hóa khớp và thoái hóa cột sống

11/10/2016 02:41
  1.  Triệu chứng lâm sàng thoái hoá khớp và thoái hoá cột sống
  • Triêu chứng thoái hoá khớp ngoai vi

Mỗi khớp có các triệu chứng lâm sàng riêng biệt, ở phạm vi bài này, chúng tôi chỉ giới thiệu các nét chung.

Tổn thương thoái hoá khớp thưòng xảy ra ở các khớp chịu lực. Thường gặp nhất là khớp gối và các khớp nhỏ ngoại vi có chức năng vận động cơ học nhiều như khớp bàn ngón cái và các khớp ngón xa. Đối với các nước Âu Mỹ thưòng gặp tổn thương cả khớp háng (Việt Nam hiếm gặp khớp háng).

  • Triệu chứng cơ năng

Triệu chứng đau tại khớp tổn thương: khớp bị tổn thương đau kiểu cơ học. Đau âm ỷ, có thể có cơn đau cấp (ở cột sông) xuất hiện và tăng khi vận động, thay đổi tư thế, giảm đau về đêm và khi nghỉ ngơi. Đau diễn biến thành từng đợt, dài ngắn tuỳ trường hợp, hết đợt có thể hết đau hoàn toàn, sau đó tái phát đợt khác. Có thể đau liên tục tăng dần (đặc biệt trong trường hợp thoái hoá khớp thứ phát).

Dấu hiệu “phá rỉ khớplà dấu hiệu cứng khớp buổi sáng kéo dài từ 15 — 30 phút. Cứng khớp sau khi nghỉ ngơi cũng thường gặp, bệnh nhân phải vận động một lúc mối trở lại bình thường. Thời gian cứng khớp thường 15 phút, nói chung không quá 30 phút.

Tiếng động bất thường tại khớp xuất hiện khi vận động: bệnh nhân có thế cảm nhận được tiếng “lắc lắc”, “lục cục” tại khớp (thường ỏ khớp gối) khi đi lại; đôi khi người ngoài có thể nghe được.

Hạn chế vận động khớp tổn thương: các động tác của khớp và các đoạn cột sống bị thoái hoá hạn chế một phần. Trường hợp hạn chế vận động nhiều thường do các phản ứng co cơ kèm theo. Bệnh nhân có thể không làm được một số động tác như quay cổ, cúi sát đất, ngồi xổm…

  • Triệu chứng thực thể tại khớp

Biến dạng: lệch trục khớp (có thể có trước trong trường hợp thoái hoá thứ phát). Các biến dạng khác do hiện tượng tân tạo xương, hoặc do thoát vị màng hoạt dịch. Tuỳ theo từng vị trí mà có các triệu chứng tại khớp khác nhau. Có thể sờ thấy các “chồi xương” ở quanh khốp gối, ở khớp ngón xa (hạt Heberden), ở khớp ngón gần (hạt Bouchat).

– Hạt Heberden ở khớp ngón xa

Triệu chứng trong đợt tiến triển: khám khớp trong đợt tiến triển thường thấy khớp tổn thương sưng. Tại khốp nhỡ và lớn như khớp háng, khốp gối thường có tràn dịch.

Có thể thấy nóng tại khớp trong các đợt tiến triển, song triệu chứng viêm tại chỗ không bao giò rầm rộ. Gây cọ sát các diện sụn với nhau có thể nhận biêt được tiếng lắc rắc (tại khớp gối dấu hiệu này được gọi là “dấu hiệu bào gỗ”.

Có thể gặp teo cơ tùy hành do bệnh nhân đau, giảm vận động khớp.

  • Trỉêu chứng lảm sàng thoái hoá côt sông

Thoái hoá cột sống: thường gặp ỏ vị trí cột sống thắt lưng và cột sống cổ. Ngoài các triệu chứng tương tự thoái hoá khớp, có thể kèm theo dấu hiệu chèn ép thần kinh (đau thần kinh toạ, thần kinh cánh tay) và mạch máu.

  • Triệu chứng thoái hoá cột sống thắt lưng (xem thêm bài đau cột sôhg thắt lưng).

Thường có ba thể lâm sàng của thoái hoá cột sống thắt lưng, tuỳ thuộc vào mức

độ tổn thương của đĩa đệm.

Đau lưng cấp (lumbago): thường do thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng ở giai đoạn đĩa đệm có thể di chuyển “ra” và “vào” (thoát vị ra khỏi vị trí của đĩa đệm và trở lại vị trí bình thường). Thường gặp ở nam giới, tuổi 30 — 40. Đau cột sống thắt lưng xuất hiện sau một động tác vận động mạnh quá mức, đột ngột và trái tư thế của cột sống thắt lưng (bưng vật nặng, vác, đẩy, ngã…). Có thể kèm co cứng cơ cạnh cột sông ngang mức đĩa đệm có thoát vị (tư thế giảm đau).

Đau cột sống thắt lưng mạn tính (lombagie): thường tổn thương đĩa đệm (hẹp khe liên đốt) kết hợp với tổn thương các khớp liên mấu sau (có gai xương tại lỗ liên hợp). Gặp ở các bệnh nhân trên 40 tuổi. Đau âm ỷ vùng thắt lưng, không lan. Đau tăng khi vận động nhiều, thay đổi thời tiết, hoặc khi chuyển nằm lâu bất động, đau giảm khi nghỉ ngơi. Cột sống có thể biến dạng một phần và hạn chê một số động tác.

Đau cột sống thắt lưng – thần kinh toạ (Lombo—sciatique): đau cột sông thắt lưng kèm đau dây thần kinh toạ một hoặc hai bên. Lâm sàng thường thấy cột sống vẹo sang bên đau (tư thế giảm đau), dấu hiệu Lasègue, điểm đau Valleix, dấu hiệu giật dây chuông bên thần kinh toạ bị tổn thương, phản xạ gân xương (gối hoặc gót) có thể giảm, teo cơ tứ đầu đùi…

  • Triệu chứng lâm sàng thoái hoá cột sống cổ

Có thể tổn thương ở tất cả các đốt sống cổ nhưng thường gặp thoái hoá ở C5-6 hoặc C6—7. Nếu có thoát vị đĩa đệm thì triệu chứng rõ ràng hơn, song hội chứng chèn ép ít điển hình như vối thoát vị đĩa đệm vùng cột sông thắt lưng.

Hội chứng đau rễ thần kinh cổ-cánh tay do thoát vị đỉa đệm cột sống cô: hội chứng này gặp ỏ 70% sô” bệnh nhân có thoái hoá cột sống cổ.

Vị trí đau là đặc điểm quan trọng nhất: đau một bên, vị trí rất hằng định. Vị trí đau trên da tương ứng với vị trí thoát vị đĩa (hình bên).

Rối loạn cảm giác có đặc điểm của rễ. Đau tăng khi gắng sức, ho, song không rõ như trường hợp đau thần kinh toạ. Khi nằm ngửa, do áp lực dịch não tuỷ tăng lên, đau tăng, thậm chí nhiều khi bệnh nhân không chịu đựng nổi.

Bệnh nhân có thể biểu hiện các rốì loạn vận mạch (kiểu rối loạn thần kinh giao cảm), rối loạn dinh dưỡng (hiếm gặp, có thể teo ô mô cái), rối loạn phản xạ (tuỳ theo vị trí tổn thương: giảm phản xạ gân cơ tam đầu-tổn thương C7; giảm phản xạ gân cơ nhị đầu—tổn thương C6…).

Hội chứng chèn ép tuỷ cổ: gặp ỏ một số trường hợp có gai xương ỏ phía sau thân đốt chèn ép vào phần trước tuỷ, bệnh nhân có dấu hiệu liệt cứng nửa người hoặc liệt cứng tứ chi tăng dần. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào hình ảnh Xquang cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ đoạn cột sống cổ.

Hội chứng giao cảm cổBarré — Liéou: nhức đầu, chóng mặt, ù tai, hoa mắt, mồ mắt. Loạn cảm thành sau họng, nuốt vướng.

  • Triệu chứng toàn thân

Chỉ được chẩn đoán các triệu chứng gây nên do thoái hoá khớp hoặc thoái hoá cột sông khi không có biểu hiện toàn thân. Nếu có triệu chứng toàn thân (sốt, gầy sút, thiếu máu…), dù hình ảnh Xquang rất điển hình cũng cần tìm nguyên nhân.

  1. Triệu chứng cận lâm sàng thoái hoá khớp và cột sống

Xét nghiêm

– Xét nghiệm máu: không có hội chứng viêm (tốc độ máu lắng, CRP… bình thường).

– Dịch khớp: không có hội chứng viêm, nghèo tế bào. Dịch khớp gối được phân biệt với dịch khớp viêm bởi các đặc điểm dưới đây.

Thoái hoá khớp gối

Thường dưới 20 ml

Không màu hoặc vàng nhạt

Trong

Bình thường hoặc nhẹ Dưới 2.000/mm3 (Tỷ lệ bạch cầu trung tính thấp)

Dưối 35 g/l

Đặc điểm dịch khớp

  • Sổ lượng
  • Màu sắc
  • Độ trong
  • Độ nhớt
  • Sô’ lượng tế bào
  • Protein

Viêm khớp gô’i

Thường nhiều, có thể tới 60-80 ml Thường vàng chanh hoặc vàng sẫm Thường đục Giảm rõ

Trên 2.000/mm3 (Tỷ lệ bạch cầu trung tính cao)

Trên 35 g/l

  • Chân đoán hình ảnh
  • Xquang quy ước

Hình ảnh Xquang điển hình của thoái hoá khớp

  • Hẹp khe khớp: có đặc điểm là xẹp chủ yếu tại vùng tỳ đè, không đối xứng đối với một khớp.
  • Đặc xương dưới sụn, xẹp các diện dưới sụn.
  • Hình ảnh tân tạo xương (chồi xương, gai xương).
  • Các hốc dưối sụn, đôi khi có hình ảnh huỷ khóp: gặp trong giai đoạn tiến triển được gọi là thoái hoá khớp thể huỷ khớp (hiếm gặp).

Triệu chứng Xquang thoái hoá cột sống

+ Hẹp khe đĩa đệm.

+ Đặc xương mâm dưới sụn.

+ Hình ảnh xương tân tạo (gai xương) tại rìa thân đốt sống.

+ Hẹp lỗ liên hợp.

Cần chụp cột sống ở các tư thế thẳng, nghiêng, chếch 3/4 phải và trái (đặc biệt với cột sông cổ).

 Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác.

Chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, chụp tuỷ cản quang giúp chẩn đoán tổn thương gây các triệu chứng thần kinh ở trường hợp thoái hoá cột sống.

Cần lưu ý rằng, có những trường hợp có rất nhiều hình ảnh xương tân tạo (mỏ xương, gai xương) tại cột sống, đôi khi có những mỏ xương khổng lồ, song nếu không có triệu chứng lâm sàng hoặc triệu chứng không trầm trọng thì cũng không đáng lo ngại. Mặt khác, thường cũng không dùng danh từ “cầu xương” ngay cả khi những mỏ xương này liên kết hai đốt sống liên tiếp. Danh từ “cầu xương” thường được dành cho tổn thương xơ-calci hoá dây chằng trong bệnh viêm cột sống dính khớp.

điều trị thoái hóa đốt sống cổ

bài tập thể dục chữa thoái hóa đốt sống lưng

thoai hoa khop nen an gi