Triệu chứng học lao xương khớp

12/10/2016 09:51
  1.  Các đặc điểm chung về lâm sàng và xét nghiệm trong lao khớp
  • Triệu chứng toàn thân: hội chứng nhiễm khuẩn mạn tính: sốt về chiều, thiếu máu, gầy sút, mệt mỏi, chán ăn, ra mồ hôi “trộm”…
  • Các triệu chứng nhiễm lao ở các cơ quan khác: lao khớp thường xuất hiện sau lao các cơ quan khác. Có khoảng 50% các trường hợp có kèm các triệu chứng của lao phổi, màng phổi, màng tim, màng bụng, lao hạch… (ho ra máu, khó thở, hạch to, phù…).
  • Các xét nghiệm

+ Tế bào máu ngoại vi: số lượng bạch cầu bình thường hoặc tăng nhẹ, tỷ lệ bạch cầu lympho thường tăng (> 30%), tốc độ máu lắng tăng trong 95% các trường hợp.

+ Phản ứng Mantoux chỉ dương tính trong 90% số bệnh nhân. Xét nghiệm này hỗ trợ chẩn đoán, giúp định hướng các thăm dò khác để chẩn đoán.

+ Phát hiện bằng chứng nhiễm lao tại cơ quan khác nếu có: chụp phổi, tìm BK trong đờm, trong dịch rửa phê quản, hạch đồ hoặc sinh thiết hạch…

+ Các phương pháp phát hiện vi khuẩn lao

  • Xét nghiệm giải phẫu bệnh: tổn thương do lao là viêm đặc hiệu, tạo thành các nang lao. Nang lao có trung tâm là hoại tử dạng bã đậu, trong đó có một hoặc nhiều tế bào khổng lồ, có hàng trăm nhân xếp lại thành một vành móng ngựa hay vành khăn gọi là tế bào Langhans. Vùng rìa có các tế bào lympho, tế bào bán liên, tế bào xơ sắp xếp lộn xộn hoặc thành vòng hướng tâm.
  • Soi tìm vi khuẩn lao trực tiếp: nhuộm soi theo phương pháp Zielh-Neelsen. Tỷ lệ phát hiện được vi khuẩn trong ổ ấp xe cột sông là 20%.
  • Nuôi cấy: dùng môi trường nuôi cấy đặc biệt Loeweinstein- Thòi gian mọc vi khuẩn sau một hai tháng. Nuôi cấy cho kết quả dương tính cao hơn phương pháp soi kính (90%).
  • PCR (Polymerase Chain Reaction): là kỹ thuật tạo ra hàng triệu bản copy có thể xác định được trình tự ADN hoặc ARN đặc hiệu. Kết quả nhận được sau 24 – 48 giờ. Phương pháp có độ nhạy và độ đặc hiệu cao (độ nhạy 74 — 91% và độ đặc hiệu 95 – 100%).
  • ELI SA: cho phép xác định kháng thể kháng vi khuẩn lao trong huyết thanh bệnh nhân.
  1. Triệu chứng học lao các khớp ngoại vi
  • Trỉêu chứng hoc lao các khớp ngoai vi

Viêm khớp do lao là viêm khớp bán cấp hoặc mạn tính, thứ phát sau một nhiễm khuẩn do trực khuẩn lao. Phần lốn chỉ bị một khớp, thường gặp nhất là khớp háng và khớp gối, khớp cổ chân chiếm 50% các lao khớp ngoại vi. Lao khớp ngoại vi cũng chia làm ba giai đoạn, cần chú ý giai đoạn sớm mặc dù các dấu hiệu khá kín đáo, nhưng nếu phát hiện được thì điều trị sớm có kết quả rất tốt, không để lại di chứng. Tiền sử lao khai thác được trong 20% các trưòng hợp. Có hai cách diễn biến: Tổn thương lao từ đầu xương lan sang diện khớp và bao hoạt dịch. Đây là thể lao khớp kinh điển. Hoặc tổn thương xuất phát từ màng hoạt dịch, sau đó mới lan sang diện khớp, đầu xương. Thể này ít gặp và khó chẩn đoán hơn.

  • Giai đoạn khởi phát

Lâm sàng: đặc điểm của tổn thương tại khớp: thường tổn thương một khớp đơn độc. Tính chất viêm bán cấp: đau vừa phải, khớp sưng rõ, tăng lên khi vận

động. Khớp sưng nề do tràn dịch xuất hiện nhanh, giảm vận động khớp, teo cơ nhanh. Các triệu chứng nhiễm vi khuẩn lao tương tự như phần trên.

Xét nghiệm: các xét nghiệm chung tương tự như trên.

Xét nghiệm dịch khớp: bạch cầu tăng cao từ 10.000 — 20.000 tê bào/mm3, protein trên 3,5 g/dl. Nhuôm tìm vi khuẩn kháng cồn kháng toan trong dịch khớp hay màng hoạt dịch khớp chỉ dương tính 10 — 20%. Nuôi cấy trên môi trường Loewenstein từ dịch khớp dương tính 80% và từ màng hoạt dịch khớp dương tính tới 94%.

Sinh thiết màng hoạt dịch bằng kim hay phẫu thuật cho thấy tổn thương lao điển hình (nang lao, bã đậu, BK). Đây là phương pháp chẩn đoán rất có giá trị. Đặc biệt nội soi khớp và sinh thiết màng hoạt dịch dưới nội soi cho phép đánh giá trực tiếp tổn thương và sinh thiết màng hoạt dịch đúng vị trí tổn thương.

Sinh thiết hạch gốc chi của khớp tổn thương đôi khi cũng có thể thấy tổn thương lao.

Xquang xương khớp

Rất có giá trị chẩn đoán sớm thể lao xương khớp. Tuy vậy, đối với thể lao màng hoạt dịch, hình ảnh Xquang quy ước ít thay đổi. Giai đoạn sớm có thể thấy khe khớp bị hẹp, mất chất khoáng dưối sụn, bò xương bị bào mòn nham nhở. Hình bào mòn, khuyết xương, hốc ở đầu xương hoặc dưới sụn khớp là những biểu hiện khá đặc hiệu. Giai đoạn này nên chụp cộng hưởng từ.

  • Giai đoạn toàn phát

Lâm sàng: trong giai đoạn này, tổn thương lao lan rộng, hình thành các ổ áp xe lạnh, gây hạn chế vận động nhiều. Khám khớp có thể thấy ổ rò cạnh khớp. Cơ của đoạn chi liên quan teo rõ rệt, thường có hạch tại gốc của chi có tổn thương lao.

Hình ảnh Xquang khớp tổn thương: tổn thương bao gồm mất chất khoáng đầu xương lan rộng; hẹp khe khớp, khốp nham nhở cả về hai phía đầu xương (hình ảnh soi gương) do sụn khớp bị phá huỷ nham nhở, có hình ảnh khuyết hoặc hang, hốc ở đầu xương. Phần mềm quanh khớp đậm đặc, cản quang hơn bình thường do sự hình thành ổ áp xe.

  • Giai đoạn cuối

Lăm sàng: khớp đỡ sưng, lỗ rò có thể để lại sẹo xấu, hạn chế vận động khớp nhiều. Nếu không điều trị tốt có thể có các biến chứng như lao lan sang bộ phận khác hoặc rò mủ kéo dài và có bội nhiễm.

Xquang: các tổn thương huỷ hoại xương khớp nặng, dẫn đến dính khốp.

  • Tiến triển của lao xương khớp

Đối với viêm khớp do lao, tổn thương giải phẫu bệnh thường tiến triển từ giai đoạn viêm bao hoạt dịch đặc hiệu lao đến giai đoạn bã đậu hoá, sau đó tiến triển đến viêm xương khớp, có thể để lại các hậu quả huỷ hoại khớp nghiêm trọng. Tiến triển thường chậm hơn (trong vòng 4-5 năm), so vối các viêm khớp mủ thông thường.

  • Các thê lao đỉnh khu

Viêm khớp do lao thương là viêm khớp mạn tính, gặp nhiều ở chi dưới hơn chi trên. Mỗi khốp bị lao lại có những đặc điểm riêng biệt.

  • Khớp gối(29% các trường hợp): thường khởi phát từ viêm lao ở xương chày, xương bánh chè, xương đùi. Thưồng gặp ổ áp xe lạnh ở khu vực này. Xquang tổn thương ở phần mâm chày và phía sau lồi cầu dưới xương đùi.
  • Khớp cổ — bàn chân (20%): kèm theo teo cơ cẳng chân, gây tổn thương kiểu chân ngựa, nổi hạch khoeo chân và thường nhanh chóng xuất hiện áp xe rò mủ. Xquang: tổn thương ở phần trên xương sên và đầu dưới xương chày.
  • Khớp vai (15%): sưng vùng vai, teo cơ delta và cơ trên gai, hạch nách to. Xquang cho thấy hình ảnh khuyết xương phía trên ngoài của chỏm xương cánh tay.
  • Khớp háng (10%): đau khớp với dấu hiệu tại chỗ kín đáo. Teo cơ mông và cơ đùi, có thể có hạch bẹn, và áp xe ở bẹn hay mông. Xquang khớp háng cho thấy hẹp khe khớp không đồng đều, đôi khi kết hợp với viêm mấu chuyển lớn là những dấu hiệu rất gợi ý lao. Tiếp đó bệnh gây huỷ hoại phần trên ngoài chỏm xương đùi và bán trật trên ngoài khốp háng.
  • Khớp cùng chậu (10%): thường chỉ ở một bên. Biểu hiện bởi đau mông, tăng lên khi đi lại. Xquang cho thấy khớp cùng chậu mò, đôi khi có xương chết. Có thể sò thấy khối áp xe khung chậu khi thăm trực tràng.
  • Viêm khớp nhiều ổ (5%): gặp ở người cao tuổi, tiền sử dùng nhiều corticoi Có thể kết hợp với viêm đốt sống đĩa đệm do lao hoặc lao nội tạng.
  • Các thể lao đăc bỉêt
  • Cốt tuỷ viêm do lao

Bệnh chiếm 15% cốt tuỷ viêm mạn tính do nhiễm khuẩn và 15% trường hợp lao khốp. Phần lổn tổn thương một ổ (90% các trường hợp). Thường hay gặp tổn thương xương ống và xương dẹt.

Lâm sàng bệnh tiến triển âm thầm kéo dài, do đó thường được chẩn đoán muộn và hay có các biến chứng như áp xe phần mềm, rò mủ. Khi có lỗ rò có thể kết hợp bội nhiễm vi khuẩn thường.

Xquang điển hình có các tổn thương dạng huỷ xương có xơ xương phản ứng tối thiểu, ít gặp mảnh xương chết.

  • Viêm ngón do lao (spina ventosa)

Bệnh xảy ra chủ yếu ở trẻ nhỏ. Đây là một thể lâm sàng của cốt tuỷ viêm do lao gây tổn thương xương dài ở bàn tay hoặc bàn chân. Thường hay gặp ở xương ngón tay, bao gồm huỷ xương ở phần trung tâm với phản ứng của màng xương rõ, khiến cho xương có hình ảnh phình ra. Triệu chứng lâm sàng là phù nề tại chỗ, phần thân xương bị tổn thương không đau, có các triệu chứng loạn dưỡng da trên vùng tổn thương.

  • Viêm bao gân và túi thanh mạc do lao

Thường hay gặp ở người lốn và người già. Viêm bao gân hay gặp ỏ bàn tay và cổ tay, đặc biệt ở bên phía tay thuận. Viêm túi thanh mạc thường thấy ở nơi dễ bị chấn thương như khuỷu tay, mấu chuyển. Dấu hiệu lâm sàng thường gặp là phù nề tại chỗ, không đau hoặc đau ít, kèm theo hạn chế vận động. Chẩn đoán dựa trên phân lập được vi khuẩn lao từ mô tổn thương hoặc tìm thấy u hạt ở màng hoạt dịch.

  • Bệnh Poncet

Bệnh có biểu hiện bởi viêm đa khớp vô khuẩn, xuất hiện trên nền một lao tiến triển ở nơi khác. Thường hay gặp viêm các khớp ở bàn tay hay bàn chân của bệnh nhân đang bị lao hoặc có tiền sử bị lao có nhóm HLADR4. Các dấu hiệu lâm sàng mất đi sau khi điều trị bằng thuốc chông lao. Cơ chế của bệnh là dị ứng do có một protein sốc nhiệt của BK phản ứng chéo vối proteoglycan của sụn khớp gây ra phản ứng của tế bào T ở những bệnh nhân có HLA DR4.

  • Chẩn đoán lao khớp ngoại vỉ
  • Chẩn đoán xác định

+ Tiêu chuẩn viêm khớp.

Về lâm sàng: viêm một khớp mạn tính, khởi phát từ từ. Có thể có lỗ rò. Xquang: hẹp khe khớp, huỷ xương về hai phía của khốp (hình ảnh soi gương).

+ Tiêu chuẩn xác định nguyên nhân do vi khuẩn lao: như trên.

  • Chẩn đoán phân biệt

Cần chẩn đoán phân biệt vối các viêm khớp do nguyên nhân khác: do vi khuẩn sinh mủ, do nấm, đợt viêm của thoái hoá khốp, giả gút….

chữa thoái hóa đốt sống cổ

chữa thoái hoá đốt sống lưng

thoai hoa khop nen an gi