Triệu chứng học đau cột sống thắt lưng

11/10/2016 02:57
  1. Đau vùng thắt lưng do nguyên nhân cơ học

Đau vùng thắt lưng do nguyên nhân cơ học chiếm 90 — 95% các trường hợp đau vùng thắt lưng. Đa số không tìm thấy nguyên nhân, hoặc do thoái hoá ho tính. Loại này không cần thiết phải có các thăm dò hoặc điều trị đặc biệt.

Về lâm sàng, đau vùng thắt lưng cơ học biểu hiện dưói hai dạng: đau vùng thắt lưng cấp (lumbago) hoặc đau cột sống thắt lưng mạn tính (lombalgie). Hai lo

ại này chỉ khác nhau về khởi phát và thời gian tiến triển. Đau lưng cấp là đau một cách kịch phát ở cột sông thắt lưng, sự khởi phát đột ngột kèm theo cảm giác cứng cột sống. Đó là một trong những biểu hiện đặc trưng nhất của thoái hoá đĩa đệm. Diễn biến thường trong vòng một tuần. Có thể kèm theo đau thần kinh toạ hoặc không. Đau cột sống thắt lưng được coi là mạn tính khi diễn biến ít nhất 3 tháng, hầu như xuất hiện hàng ngày, không có xu hưống thuyên giảm. Trên thực tế, có thể xếp đau vùng thắt lưng do loãng xương nguyên phát (loãng xương sau mãn kinh, loãng xương tuổi già) thuộc vào nhóm đau vùng thắt lưng do nguyên nhân cơ học do có diễn biến lành tính.

  • Triêu chứng lâm sàng đau côt sống thắt lưng do nguyên nhăn cơ hoc

Đau cột sống thắt lưng: đau có thể lan toả toàn bộ cột sông thắt lưng, ở vùng vành đai, hoặc một bên… Hoặc đau lan về mào chậu hoặc xuống phía dưói xương cùng, hoặc về phía mông. Mức độ đau tuỳ trường hợp. Có thể biểu hiện bởi cảm giác đau, cảm giác nặng hoặc bỏng rát…

Đau thần kinh toạ: thần kinh toạ chi phối vận động các cơ mông, cơ ở phần sau của đùi, cơ cẳng chân và các cơ ở bàn chân. Vùng chi phối của thần kinh toạ do hai rễ L5 và Sl đảm nhiệm. Đau thần kinh toạ chủ yếu do thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng gây ra. Khi thoát vị bên sẽ gây đau thần kinh toạ cùng bên, khi thoát vị trung tâm sẽ đau thần kinh toạ hai bên.

Thoát vị đĩa đệm bên

Thoát vị dĩa đệm trung tâm

Các triệu chứng đau thần kinh toạ

Vị trí đau tùy theo rễ tổn thương. Khi tổn thương rễ L5, thường đau lan xuống mông, về phía sau ngoài đùi, phần trưóc ngoài cẳng chân, vượt qua trưốc mắt cá ngoài rồi tới mu chân, tận hết ở ngón chân cái. Trường hợp tổn thương rễ Sl, đau lan xuống mặt sau của đùi, mặt sau cẳng chân, lan về phía gân Achille, tới mắt cá ngoài, tận hết ở gan chân hoặc bồ ngoài gan chân, phía các ngón chân út.

Cường độ đau tuỳ theo từng trường hợp. Tính chất đau cơ học. Một số trường hợp có kèm theo dị cảm (kiến bò, kim châm).

Dấu hiệu Lasègue và hệ thống điểm đau Valleix (+) dương tính. Có thể có dấu hiệu giật dây chuông (ấn vào khoảng liên gai L4-L5 hoặc L5-S1, bệnh nhân đau dọc theo đường đi của thần kinh toạ vùng rễ chi phối).

Nghiệm pháp Lasègue

Phản xạ gân xương và cơ lực: phản xạ gân gót bình thường, giảm hoặc mất cảm giác phía ngón cái (có thể tăng ở giai đoạn kích thích), không đi được bằng gót, teo nhóm cơ cẳng chân trước ngoài, các cơ mu chân (rễ L5). Trường hợp tổn thương rễ Sl: Phản xạ gót giảm hoặc mất, cảm giác giảm hoặc mất phía ngón ủt, không đi được bằng mũi chân, teo cơ bắp cẳng chân, cơ gan bàn chân.

Các triệu chứng khác: co cứng cơ cạnh cột sông, tăng nhậy cảm tại khoảng liên gai hoặc vùng cạnh cột sống. Không có giảm cảm giác chi dưói hoặc rối loạn cơ tròn.

Triệu chứng gợi ý thoát vị đĩa đệm: đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm thường biểu hiện dưới dạng đau vùng thắt lưng cấp (lumbago), kèm theo các triệu chứng sau:

+ Hoàn cảnh xuất hiện thường do gắng sức, như nhấc một vật nặng, tư thế xoắn vặn đột ngột, ngã đột ngột và mạnh trên nền cứng hay có thể do các động tác sinh hoạt hàng ngày. Nói chung, thường có động tác dựng đứng hoặc quay của thân mình, có hoặc không kèm theo gắng sức. Sau tư thê bất thường tại cột sống thắt lưng, bệnh nhân có thể cảm giác có tiếng “rắc” hoặc chuyển động ở cột sống, kèm theo đau dữ dội ở cột sống thắt lưng và thấy cứng cột sống thắt lưng khiến bệnh nhân dường như bị “đóng đinh tại chỗ”.

+ Hội chứng chèn ép: đau tăng bởi một gắng sức dù rất nhỏ, khi bệnh nhân định vận động. Đau tăng bởi một gắng sức dù rất nhỏ, khi định vận động, khi ho, rặn. Các động tác này làm gia tăng sự chèn ép của đĩa đệm bởi sự co cơ và tăng áp lực trong khoang màng cứng.

+ Tư thế giảm đau: bệnh nhân hoặc nằm nghiêng về một bên thân hoặc mất độ lõm sinh lý của cột sống thắt lưng, hoặc gù phần thấp của cột sống thắt lưng. Mọi các động tác thử nắn lại tư thế đều gây đau. Cột sống thắt lưng bị hạn chế mọi động tác, trừ động tác về phía tư thế giảm đau (giảm độ giãn thắt lưng, tăng khoảng cách tay—đất do đau thần kinh toạ).

  • Các thể nặng của đau vùng thắt lưng do nguyên nhân cơ học – có chỉ định phẫu thuật cấp cứu

Đau vùng thắt lưng do nguyên nhân cơ học sẽ có chỉ định mổ nếu có các triệu chứng sau:

+ Hội chứng đuôi ngựa (rối loạn tiểu, đậi tiện do rối loạn cơ tròn).

+ Đau thần kinh toạ có liệt: giảm cơ lực của một hoặc nhiều cơ.

+ Đau thần kinh toạ thể tăng đau: không đáp ứng với thuốc giảm đau bậc 3 (được coi là không đáp ứng khi dùng morphin như Moscontin® hoặc Skenan LP ® liều 30 mg — hai lần mỗi ngày)

  • Triệu chứng gợi ý đau vùng thắt lưng do nguyên nhân cơ học: quan trọng nhất là phát hiện chính xác năm đặc điểm sau:

+ Cách thức bắt đầu: không có tiền sử ngã hoặc chấn thương rõ rệt, mà hình thành dần dần ở người có tiền sử đau cột sống thắt lưng cấp hoặc đau thần kinh toạ, hoặc đã từng đau cột sống thắt lưng thoáng qua.

+ Các yếu tô’ ảnh hưởng: đau tăng khi gắng sức, đứng lâu, khi gấp thân, khi ngồi, khi ngủ trên giường mềm; và ngược lại: giảm đau khi bỏ gắng sức, nằm tư thế hợp lý, nằm giường cứng…; đáp ứng tốt với thuốc chống viêm không steroid.

+ Thời điểm đau: hầu như liên quan đến thay đổi thòi tiết. Nếu ở phụ nữ, có thể liên quan đến thòi kỳ trước hành kinh. Bệnh nhân đau ban ngày nhiều hơn ban đêm, nhất là nửa sau của đêm, hầu như không đau nếu như giường ngủ thích hợp. Một scí trường hợp sau ngủ dậy hết hẳn đau, tuy nhiên có một số bệnh nhân chỉ đau ít và nhanh chóng hết đau sau một vài động tác vận động đơn giản.

+ Tiến triển của đau cột sôhg thắt lưng: khá đặc trưng kể từ khi xuất hiện: cường độ thay đổi từ tuần này sang tuần khác với các đợt thuyên giảm rồi tăng dần sau gắng sức.

+ Các triệu chứng âm tính: cần xem xét tiền sử về các rối loạn chức năng và toàn thân khác, lưu ý không có các triệu chứng gợi ý đau vùng thắt lưng do bệnh toàn thể, đó là:

  • Gần đây tình trạng toàn thân không bị thay đổi, không sốt.
  • Không có các rối loạn chức năng mới xuất hiện: chức năng dạ dày, ruột, sản phụ, phế quản—phổi…
  • Không có các biểu hiện đau các vùng cột sông khác: lưng, cổ, sưòn, khớp khác…
  • Cũng cần khai thác về cách thức sông, đặc điểm cá nhân và trạng thái tinh thần của bệnh nhân vì đau vùng thắt lưng do nguyên nhân tâm lý cũng rất thường gặp. Vối loại đau vùng thắt lưng này, các xét nghiệm và Xquang hoàn toàn bình thường.

Tuy nhiên, cũng không được quên rằng đau cột sông thắt lưng cũng có thể kèm theo một bệnh khác.

  • Triệu chứng cận lâm sàng của đau cột sống thắt lưng do nguyên nhăn cơ hoc
  • Hội chứng viêm sinh học và bilan phospho—calci

Hội chứng viêm sinh học và bilan phospho—calci âm tính: đây là triệu chứng âm tính hết sức quan trọng và là điều kiện để chẩn đoán đau vùng thắt lưng do cơ học. Trường hợp có hội chứng viêm sinh học hoặc có rối loạn bilan phospho- calci, cần phải tìm nguyên nhân.

  • Xquang quy ước

Nói chung, không cần thiết phải chụp Xquang với tất cả các người bệnh. Nên nhớ rằng mỗi đợt chụp Xquang cột sống có thể ảnh hưởng tối bộ phận sinh dục bằng cả lượng tia để chụp tim phổi hàng ngày trong 6 năm. Chỉ định chụp Xquang quy ước:

+ Các biểu hiện bệnh lần đầu tiên và kéo dài trên 4 tuần;

+ Có các triệu chứng liệt thần kinh;

+ Có triệu chứng của bệnh hệ thống (ví dụ như tốc độ máu lắng tăng); + Nghi ngờ có u, hoặc tiền sử bệnh lý u;

+ Người lạm dụng rượu;

+ Tuổi trên 50.

Trượt đốt sông ra trước

Xquang quy ưốc ít mang lại thông tin trong đa sô” các trường hợp đau cột sống thắt lưng có nguyên nhân cơ học. Có thể gặp một trong các hình ảnh dưới đây.

+ Xquang cột sông thắt lưng bình thường.

+ Hình ảnh thoái hoá cột sống: hẹp khe khớp đĩa đệm; đặc xương dưối sụn; và xẹp các diện dưối sụn; chồi xương (gai xương tại thân đốt sông).

+ Hình ảnh trượt đốt sống ra trưốc thường do gãy phần lá (lame) tại cung đốt sốhg, còn gọi là “gãy cổ chó”.

Tổn thương gãy “cổ chó”

+ Hình ảnh loãng xương: hình ảnh các đốt sống tăng thấu quang; khe đĩa đệm không hẹp, không nha.m nhở; các mâm đốt sông rõ nét, đặc, tạo thành đường viền giới hạn thân đốt sống (đốt sống có hình “viền tang”). Trường hợp nặng, đốt sông có thể trong như thuỷ tinh; lún xẹp đốt sống, có thể tổn thương nhiều đốt sống (loãng xương sau mãn kinh thưòng tổn thương sốm nhất từ đốt D7 — 8 trỏ xuống).

  1. Đau vùng thắt lưng “triệu chứng”

Đau vùng thắt lưng “triệu chứng” là đau cột sông thắt lưng do một bệnh lý nào khác, hoặc của cột sống thắt lưng, hoặc của cơ quan lân cận. Thường đau kiểu viêm, có biểu hiện một sô” triệu chứng của bệnh là nguyên nhân gây đau (viêm, ung thư…). Đó có thể là bệnh viêm đĩa đệm đốt sống (do lao hoặc vi khuẩn thường), viêm cột sống dính khớp; có thể có nguyên nhân trong ông sông (u thần kinh…); nguyên nhân ngoài cột sống (giãn động mạch chủ, loét dạ dày tá tràng)… Loại đau cột sống thắt lưng này hoặc phải xử trí kịp thòi, hoặc đòi hỏi một trị liệu đặc biệt. Tiên lượng phụ thuộc chủ yếu vào nguyên nhân gây đau vùng thắt lưng. Trường hợp thấy có vẻ là đau vùng thắt lưng “triệu chứng” cần phải gửi bệnh nhân đến các cơ sở chuyên khoa để tiến hành các phương pháp để thăm dò, phát hiện nguyên nhân.

Đau vùng thắt lưng “triệu chứng” thường có một số triệu chứng gợi ý như sau: Khởi phát đột ngột ở người không có đau cột sống thắt lưng cấp hay mạn trưốc đó; đau không ở vùng thấp của cột sông thắt lưng mà ở vùng cao, hoặc kèm theo đau vùng mông, cột sống phía trên, lan ra xương sườn…

— Các triệu chứng “báo động đỏ” ở một bệnh nhân đau vùng thắt lưng cấp tính

Các triệu chứng gợi ý đau vùng thắt lưng là triệu chứng của một bệnh toàn thể.

+ Tuổi khởi phát triệu chứng: dưới 20 hoặc trên 55 tuổi.

+ Chấn thương nặng (ngã trực tiếp hoặc rơi từ độ cao đáng kể xuốíng).

+ Đau không giảm mà tăng dần.

+ Đau kiểu viêm: đau nhiều lúc nửa đêm về sáng hơn là đầu buổi tối: cứng khớp buổi sáng trên 15 – 30 phút, thức giấc ban đêm.

+ Trong trường hợp đau thần kinh toạ, có nhiều bất thường thần kinh kèm theo: tổn thương hai bên, rối loạn cơ tròn, tổn thương bó tháp…

+ Đau ngực kết hợp (cần tìm kiếm bệnh lý mạch máu).

+ Cơ địa đa mạch, phình động mạch chủ.

+ Sút cân không giải thích được nguyên nhân, có thể kèm ra mồ hôi ban đêm.

+ Sôt.

+ Tiền sử ung thư (thậm chí đã được coi là điều trị khỏi).

+ Cơ địa nghiện hút, nhiễm HIV, dùng corticoid đường toàn thân.

+ Cứng cột sống thắt lưng kéo dài.

+ Biến dạng cột sông thắt lưng trầm trọng.

Tóm lại, một trường hợp đau vùng thắt lưng không phải đau kiểu cơ học đều phải nghi ngờ đó là vùng thắt lưng “triệu chứng”. Đó là các loại đau vùng thắt lưng có đặc điểm đau thưòng xuyên, không tìm được tư thế giảm đau. Đau tồn tại ban đêm, thậm chí tăng về đêm, đôi khi chỉ đau nửa đêm về sáng, buộc bệnh nhân phải thức dậy vì đau. Đau tăng dần, không đõ hoặc có các cơn đau khó chịu trên nền đau thường xuyên. Không đáp ứng với thuốc giảm đau thông thường. Nếu có các triệu chứng rối loạn chức năng hoặc/và toàn thân mối xuất hiện thì

+ Kéo giãn cột sống hoặc/và đắp bùn nóng: thường có hiệu quả tốt.

+ Tìm hiểu các yếu tô” gây đau cột sông thắt lưng: các tư thế làm việc, các vận động bất thường, đột ngột, các yếu tô” làm mất cân bằng tư thế cột sông như quá ưỡn cột sông thắt lưng, quá vặn, quá nghiêng… đều cần được điều chỉnh nhằm tránh tái phát đau cột sống thắt lưng. Với người trẻ hoặc chưa có nghề nghiệp, cần hướng nghiệp tuỳ theo mức độ tổn thương cột sông thắt lưng. Với người đã có nghề nghiệp, cần hướng dẫn các biện pháp thích nghi với nghề nghiệp. Người béo phì cần được tư vấn để giảm cân. Nếu bệnh nhân có trượt đốt sông, cần có các bài tập làm tăng sức mạnh cơ lưng—bụng, đeo thắt lưng chỉnh hình cách quãng hoặc thường xuyên, cần tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức và tránh các nghề như lái mô tô, máy kéo…

+ Nếu các biện pháp trên không có hiệu quả, bất động cột sông thắt lưng bằng máng bột trong 2 tháng hoặc đeo thắt lưng cứng khi vận động (ngồi, đứng, đi lại…) ban ngày trong một vài tháng đến một năm.

  • Chỉ định phẫu thuật

Trường hợp có ép rễ hoặc không đáp ứng với điều trị như trên, sau 3 tháng, cần gửi các cơ sở chuyên khoa làm thăm dò xác định tình trạng tổn thương và xét chỉ định phẫu thuật.

  • Chẫm sóc tại cộng đồng

Tư vấn cho bệnh nhân các tư thế tránh đau, tránh tái phát đau cột sông thắt lưng.

Cần quan tâm đến vấn đề tâm lý của bệnh nhân do đau cột sông thắt lưng thường kéo dài, mạn tính nên nhiều bệnh nhân có thể bi quan, trầm cảm. Nhiều trường hợp cần điều trị trầm cảm kết hợp, đặc biệt các bệnh nhân đau do yếu tô” tâm lý.

Tóm tắt phác đồ điều trị đau vùng thắt lưng

  1. Đau vùng thắt lưng là triệu chứng của bệnh toàn thể: điều trị theo nguyên nhân.
  2. Điều trị đau vùng thắt lưng do nguyên nhân cơ học.
  • Thuốc chống viêm không steroid.

+ Dicloíenac (Voltarène®)

+ Hoặc Meloxicam (Mobic®)

+ Hoặc Celecocib (Celebrex®)

  • Thuốc giảm đau.

+ Paracetamol

+ Paracetamol + Codein (Efferalgan Codein).

  • Thuốc giãn cơ

+ Thiocolchicoside (Coltramyl®)

+ Hoặc Eperisone (Myonal®)

+ Hoặc Tolperisone (Mydocalm®)

  • Các biện pháp vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, tránh tái phát đau cột sông thắt lưng.

thuoc tri thoat vi dia dem

thuốc khớp glucosamin

thuoc tri xuong khop