Triệu chứng bệnh đau tủy xương

12/10/2016 11:28

Do triệu chứng rải rác ở nhiều cơ quan, nên chúng tôi trình bày cả triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng théo hệ cơ quan.

– Tổn thương xương và tăng caỉci máu

Triệu chứng đau xương thường gặp với tỷ lệ cao, khoảng 70 — 80%. Vị trí đau thường là ở cột sống lưng — thắt lưng, xương sườn. ít gặp đau ỗ các xương chi… đau tăng lên khi vận động, dùng thuốc giảm đau không mang lại hiệu quả rõ rệt.

Những cơn đau lưng, thắt lưng dữ dội đột ngột thường là dấu hiệu của xẹp đốt sống, thường khởi phát do vận động mạnh. Đau xương thường từng cơn, có thể kéo dài nhiều giò, nhiều ngày hay hơn nữa.

Một dấu hiệu mà bệnh nhân có thể tự nhận ra là thấy chiều cao giảm từ 5 đến 10 cm so với trước, là do các đốt sống bị xẹp. Đây chính là hiện tượng gãy xương tại đốt sông.

Gãy xương bệnh lý khác cũng hay gặp. Các xương bị gãy thường là xương sườn, xương ức (gây biến dạng lồng ngực). Một sô” ít trường hợp các xương đòn, xương chậu hay xương dài bị gãy ngay cả khi thầy thuốc thăm khám.

Xquang xương cho hình ảnh tổn thương xương với các hình thái: loãng xương đồng đều hay không đồng đều, tiêu xương hình hốc tròn hay bầu dục. Vị trí thường là các xương dẹt (xương sọ, xương sườn, xương bả vai…), xương cột sông, xương chậu, xương dài. Gãy xương hay gặp, nhất là gãy xương sườn, xương đòn, xẹp đốt sông. Tuy nhiên, có tối 20% không phát hiện thấy tổn thương xương.

Xquang sọ: hình ảnh mất chất khoáng và tiêu xương hình hốc lan tỏa

Xquang khung chậu: hình ảnh tiêu xương hình hốc lan tỏa ở ngành ngồi mu và đẩu trên xương đùi

Xquang cột sống thắt lưng: hình  ảnh mất chất khoáng lan tỏa, xẹp đốt sống đa tầng sống L2                  

Xquang cột sống ngực: hình ảnh xẹp đốt

Tăng calci máu gặp khoảng 25% là hậu quả của tiêu xương gây tăng calci máu, đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy thận. Biếu hiện của tăng calci máu trên lâm sàng là: tiểu nhiều, buồn nôn, nôn, mất nước nặng và có thể hôn mê.

  • Rối loạn ở máu và cơ quan tạo máu

+ Giảm các tế bào máu ngoại vi: thiếu máu gặp khoảng 80% bệnh nhân, thường là thiếu máu đẳng sắc và mạn tính. Tỷ lệ hồng cầu lưới thấp phản ánh thiếu máu không hồi phục, có hiện tượng hồng cầu “chuỗi tiền” do tăng protein máu, bạch cầu bình thường hoặc giảm, ít khi thấy tương bào ra máu ngoại vi. Tiểu cầu giảm nhẹ ở giai đoạn muộn (15%) có thể do cơ chế tự miễn hoặc hậu quả của điều trị hoá chất, ngoài ra còn do bị lấn át bởi các tương bào ác tính.

+ Tuỷ đồ: tăng tỷ lệ tương bào > 10% (qua chọc hút tuỷ). Sự tăng sinh của plasmocyt tuỷ có thể lan toả nhưng cũng có khi khu trú kèm với hiện tượng tăng sinh xơ, vì vậy sinh thiết tuỷ xương và làm tuỷ đồ là hai xét nghiệm quan trọng hỗ trợ nhau trong xác định tăng sinh tương bào ác tính. Các tương bào trong tuỷ có hình thái trưởng thành hoặc dạng non chưa biệt hoá hoặc dạng trung gian, có rối loạn cấu trúc.

  • Tổn thương thận

Suy thận gặp khoảng 25% các trường hợp là hậu quả của tăng calci máu, tăng acid uric máu, lắng đọng dạng bột ở cầu thận, nhiễm trùng tái diễn ở đài bể thận, tình trạng thâm nhiễm tương bào… Trong đó lắng đọng protein chuỗi nhẹ ở thận và tăng calci máu là nguyên nhân chính gây suy thận. Triệu chứng biểu hiện chủ yếu trên các xét nghiệm sinh hoá máu và nước tiểu.

Tủy đổ: hình ảnh các tương bào bất thường                           Máu ngoại vi: hiện tượng “hồng cầu chuỗi tiền”

  • Tăng protid toàn phần, tăng imunoglobulin đơn clon, tăng độ quánh máu
  • Tăng protid toàn phần, tăng lượng globulin là môt gợi ý quan trọng trong chẩn đoán bệnh đa u tủy xương.
  • Tăng đơn dòng imunoglobulin: một dòng cao (ỊgG>3,5g/dl hoặc IgA>2g/dl) trong khi các dòng khác giảm.
  • Tăng độ quánh máu: bình thường độ quánh của máu là 1,8 so với nước. Khi tăng tới 5 — 6 tương ứng với mức IgM: 40g/l, IgG: 50g/l và IgA: 70g/l sẽ có biểu hiện lâm sàng nhức đầu, rối loạn thị giác và bệnh lý võng mạc, có thể suy tim, các typ IgA, IgG thường có biểu hiện hội chứng này.
  • Tăng độ quánh máu biểu hiện bởi tốc độ máu lắng tăng rất cao. Tốc độ máu lắng giò đầu tăng trên 60 mm là một dấu hiệu gợi ý bệnh Kahler.
  • Các rối loạn khác

+ Nhiễm khuẩn: hơn 75% bệnh nhân có biểu hiện nhiễm khuẩn trong đó có 25% nhiễm khuẩn tái diễn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây tử vong. Thông thường là viêm phổi do Streptococus pneumonie, Staphylococus aureus và Klepsiella pneumonie, sau đó là nhiễm khuẩn tiết niệu do escherichia coli. Sự suy giảm miễn dịch do giảm các Ig miễn dịch bình thường là yếu tô” quan trọng nhất gây ra nhiễm khuẩn tái phát kinh diễn ở bệnh nhân đa u tủy xương.

+ Xuất huyết: gặp ở 15% bệnh nhân đa u tủy xương nói chung và 30% đối vối type IgA. Nguyên nhân do thiếu oxy và tắc mạch ở vi quản, lắng đọng chất dạng tinh bột quanh mạch máu và bệnh lý đông máu mắc phải, giảm tiểu cầu, có khi suy tuỷ, rối loạn chức năng ngừng tập tiểu cầu.

+ Tổn thương thần kinh: tổn thương cột sống gây chèn ép rễ thần kinh hay sự xâm lấn trực tiếp tương bào ác tính vào tuỷ sống, biểu hiện hội chứng rễ. Trong hội chứng tinh bột hoá cũng có sự lắng đọng chất dạng tinh bột ở các dây thần kinh ngoại biên và các rễ thần kinh. Tình trạng mệt mỏi, bất lực, lú lẫn kèm nhức đầu, rối loạn thị giác và bệnh lý võng mạc có thể do tăng độ quánh máu và tăng calci máu.

+ Ngoài ra còn có thể thấy gan to (20%), lách to (5%) và hiếm khi thấy hạch to.

dau cot song vung that lung

đau cột sống lưng dưới

benh viem khop nen an gi