Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh viêm khớp tự phát thiếu niên

12/10/2016 02:04

 1. Nguyên nhân gây bệnh
Cho đến nay những hiểu biết rõ ràng có liên quan với sự khởi đầu của bệnh cũng như sự tồn tại của tình trạng viêm khớp mạn tính vẫn còn chưa rõ. Nhưng người ta biết đây là một bệnh tự miễn với đặc trưng ở một nhóm gen – lgen hoặc nhiều gen. cả yếu tô” môi trường và yếu tô” gen đều đóng vai trò quan trọng trong nguyên nhân gây bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên.
— Yếu tố môi trường: năm 1999 Nielsen nghiên cứu về kinh tê” xã hội có liên quan vối trẻ viêm khốp tự phát thiếu niên ở Đan Mạch, tác giả thấy ỏ những gia đình có một trẻ, bô” mẹ có thu nhập cao, sông ở đô thị thì có nguy cơ cao mắc bệnh này. Nghiên cứu gần đây Jaakkola và Gissler 2005 phát hiện mối liên quan phơi nhiễm của thai nhi với khói thuốc lá và nguy cơ về sau phát triển bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên ỏ trẻ gái. Không có bằng chứng liên quan nào về chê” độ dinh dưỡng với viêm khớp tự phát thiếu niên, cho đến nay không có chê” độ ăn đặc biệt nào được đề cập có liên quan với bệnh.
— Chấn thương thực thể: chấn thương ở ngọn chi có thể là yếu tô” phát động viêm khớp hoặc gây những ảnh hưởng đến khớp đã viêm.
— Nhiễm trùng: theo nhiều tác giả yếu tô” nhiễm trùng có thể đóng vai trò phát động sự khởi đầu của viêm khốp tự phát thiếu niên. Đã có những nghiên cứu đưa ra vai trò của Parvovirus B19, Mycoplasma pneúmoniae và Chlamydia trachomatis trong bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên. Ronaghy và cs miêu tả mối liên quan của yếu tô” thúc đẩy viêm khốp Mycobacterium tubeculosis ADN hoặc tác nhân kích thích miễn dịch tổng hợp- oligodeoxynucleotides với sự tăng đáp ứng của T helperl. Một vài nghiên cứu phát hiện ra vai trò bảo vệ của protein shock nóng (hsps) chông lại viêm khớp. Hsps còn gọi là protein stress và sản phẩm của nó tăng lên trong các tình trạng stress. Chính các protein này gây tăng đáp ứng ở các vị trí viêm. Protein shock nóng của vi khuẩn được nhận biết bởi hệ miễn dịch, gây ra một đáp ứng chéo của chính protein này và quá trình tự miễn. Đáp ứng miễn dịch với Mycobacterium hsps 65 bảo vệ chuột chông lại bệnh viêm khớp. Hầu hết đáp ứng của tê” bào T với hsp được tìm thấy ở bệnh nhân thể viêm ít khớp – một thê bệnh có tiên lượng tốt, bằng chứng là các tê” bào phản ứng với protein hsp, các tê bào T thông thường sản xuất ra IL-10 giảm xuống.
— Yếu tố miễn dịch: vai trò của tê” bào T: các tê” bào T đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại của quá trình viêm. Các tế bào T được tìm thấy trong dịch khớp thì hoạt động mạnh diễn tả sự tăng đáp ứng nhanh và sự tồn tại của các thụ thể miễn dịch (CD4+, CD8+). Điều này cho thấy sự nhận biết của phức hợp hoà hợp mô bởi các tế bào lympho T, có một vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của viêm khớp tự phát thiếu niên.
Vai trò của tế bào B thì chưa rõ nhưng có một thực tế là những tế bào này điều hoà hoạt động miễn dịch dịch thể để sản xuất ra các kháng thể mà các kháng thể này chắc chắn có trong huyết thanh bệnh nhân viêm khóp tự phát thiếu niên — kháng thể kháng ANA, kháng thể kháng CCP, đã chứng tỏ hoạt động của tế bào lympho B.
— Yếu tốhormon: người ta thấy rằng tỷ lệ trẻ gái mắc bệnh viêm khốp tự phát thiếu niên trội hơn so với trẻ trai. 1993 Da Silva và cs phát hiện ra rằng mức androgen thấp có thể gây mắc viêm khớp tự phát thiếu niên, vì nó có khả năng bảo vệ chống lại sự phá hủy sụn khớp. Ngoài ra prolactin máu tăng cũng được phát hiện ở các trẻ gái viêm khớp tự phát thiếu niên với kháng thể kháng ANA (+).
— Yếu tốgen: có những bằng chứng từ những phức hợp gen qua các nghiên cứu gia đình và nghiên cứu ở các cặp anh em sinh đôi. Năm 1969 Ansell đã nghiên cứu trên 11 cặp song sinh (5 cặp sinh đôi cùng trứng, 6 cặp sinh đôi khác trứng), thì 2/5 cặp sinh đôi cùng trứng đều mắc bệnh.
Cho đến nay nghiên cứu lớn nhất từ các cặp anh em bị bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên được thực hiện bởi Prahalad (2000). Từ số liệu của Viện quốc gia về viêm khớp, các bệnh da và cơ xương, ông thấy rằng trên 118 cặp anh em có 14 cặp sinh đôi, thì tất cả các trẻ sinh đôi đều cùng mắc bệnh. 13/14 cặp song sinh này có sự tương đồng về quá trình khởi bệnh và thời gian diễn biến của bệnh.
— HLA và viêm khớp tự phát thiếu niên: cả HLA lớp I và lốp II đều có sự liên quan với bệnh viêm khốp tự phát thiếu niên. Phát hiện sốm nhất có liên quan với HLA là sự liên quan của HLA-B27 với trẻ trai tuổi dậy thì trong thể viêm ít khốp. Nhiều trẻ này sau đó phát triển viêm khớp cùng chậu thuộc về thể enthesitis theo phân loại của ILAR. Sự liên quan khác của HLA lớp I là liên quan giữa HLA-A2 với thể viêm vài khớp khởi đầu sớm ở trẻ gái. ở bệnh nhân viêm nhiều khớp RF(-) thì có liên quan vói HLA-DR8 và HLA—DQ4 với đặc điểm lâm sàng là bệnh khởi phát sớm, kháng thể kháng ANA (+), và có viêm màng bồ đào. Gần đây kết quả khảo sát toàn bộ gen đầu tiên đã được công bố. Nghiên cứu chỉ ra 5 vùng gen giả định trong bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên (Ip36,lq31, 15q21, 19pl3 20ql3) thì 4/5 vùng đó có sự trùng lặp từng phần hay toàn bộ với các bệnh tự miễn khác, chỉ có một vùng trên Nhiễm sắc thể 15q là đặc hiệu trong bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên. Cũng có sự liên quan của gen protein tyrosine phosphatase N22(PTPN22) với bệnh viêm khốp tự phát thiếu niên ở một cộng đồng lớn ngưòi Anh.

2.  Cơ chế bệnh sinh
Cơ chế bệnh sinh của viêm khớp tự phát thiếu niên còn chưa rõ. Viêm màng hoạt dịch mạn tính đặc trưng bởi sự xâm nhiễm và lan tỏa tế bào B. Sự xâm lấn của đại thực bào và tế bào T kết hợp với quá trình giải phóng ra các cytokin đã dẫn tối sự tăng sinh màng hoạt dịch. Nghiên cứu của Scola và cộng sự thực hiện năm 2001 đã phát hiện được tế bào màng hoạt dịch có chứa RNA truyền tin đôi với yếu tố phát triển nội mạch (endothelial growth íactor), angiopoietin 1, các cơ quan thụ cảm tiếp nhận các yếu tô” này. Điều này gợi ý quá trình tăng sinh mạch gây nên bởi sự thâm nhiễm lympho bào có thể là nguyên nhân khiến bệnh kéo dài. Hậu quả là màng máu màng hoạt dịch (panus) dày, là nguyên nhân gây hủy khớp, ở rất nhiều bệnh nhân, các cytokin chiếm ưu thế kết hợp với tổ chức bị phá hủy, bao gồm interleukin-6 và TNF gợi ý khả năng đáp ứng đối với các tác nhân đích đặc hiệu của các yếu tô” này.
Về mô bệnh học, viêm khớp tự phát thiếu niên đặc trưng bởi sự thâm nhiễm các tê” bào lympho ở màng hoạt dịch. Viêm mạn tính bắt đầu bởi sự xâm nhập của kháng nguyên làm kích thích tê” bào T (chủ yếu là TCD4) tăng sinh và tập trung nhiều ở các khớp. Các tê” bào T được kích hoạt, tăng sinh và tiết ra các cytokin. Các cytokin có vai trò hoạt hoá đại thực bào. Chúng kích thích các đại thực bào sản xuất ra các cytokin khác gây kích thích các tê” bào màng hoạt dịch, tế bào sụn, nguyên bào xơ… tăng sinh, xâm lấn vào sụn tạo thành màng máu màng hoạt dịch. Màng máu màng hoạt dịch chính là màng hoạt dịch tăng sinh, chứa u hạt viêm với sự xâm nhập nhiều tê” bào, các tê” bào tăng sinh theo kiểu đơn dòng xâm lấn và phá hủy sụn, xương. Sự phá hủy sụn khớp còn do các tê” bào màng hoạt dịch giải phóng các enzym như collagenase, stromelysin, elastase… Các enzym này tác động trên nệm collagen và proteoglycan gây phá hủy cấu trúc trung tâm của sụn khớp. Nhiều yếu tô” phá hủy khác bao gồm các cytokin TNF— a và IL-1, chúng kích hoạt tê” bào hủy xương (hủy cốt bào) làm tiêu phần xương sát với sụn. Các cytokin còn hoạt hoá các tê” bào lympho B sản xuất ra yếu tô” dạng thấp có bản chất là các immunoglobulin, từ đó tạo ra các phức hợp miễn dịch lắng đọng trong khớp và gây tổn thương khớp. Các tê” bào màng hoạt dịch thực bào phức hợp miễn dịch và giải phóng ra các enzym tiêu protein, prostaglandin và các ion superoxyd gây viêm và hủy hoại mô.

thoai hoa dot song co uong thuoc gi

thoái hoá cột sống nên ăn gì

bệnh thấp khớp