Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh viêm khớp dạng thấp

12/10/2016 02:08

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng, viêm khớp dạng thấp được coi là một bệnh tự miễn dịch với sự tham gia của nhiều yếu tố như nhiễm khuẩn hoặc di truyền.
Cơ chế bệnh sinh

Phản ứng miễn dịch: sinh lý bệnh học của bệnh viêm khớp dạng thấp còn chưa rõ. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy phản ứng miễn dịch (mà nguyên nhân ban đầu khởi phát phản ứng miễn dịch này cũng còn chưa rõ) xảy ra ở màng hoạt dịch, đóng một vai trò cơ bản trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Tổn thương xuất hiện sớm nhất, cơ bản nhất và là nguyên nhân dẫn đến mọi tổn thương khác trong bệnh viêm khớp dạng thấp, là tình trạng viêm không đặc hiệu mạn tính của màng hoạt dịch khớp. Tình trạng viêm không đặc hiệu của màng hoạt dịch khớp lúc đầu là sự phù nề, xung huyết, thâm nhập nhiều tế bào viêm. Sau một thòi gian hiện tượng phù nề được thay bằng quá trình tăng sinh và phì đại của các hình lông và lớp liên bào phủ. Các hình lông của màng hoạt dịch tăng sinh và phì đại sẽ phát triển xâm lấn sâu vào đầu xương phần dưới sụn khớp gây nên các thương tổn ở phần này. Hậu quả của quá trình viêm tiến triển này là tổ chức xơ phát triển thay thế tổ chức viêm, dẫn đến tình trạng dính và biến dạng khớp. Có hai loại đáp ứng miễn dịch là miễn dịch dịch thể (dẫn đến sự tạo thành phức hợp miễn dịch) và miễn dịch tế bào. Đây là nguyên nhân chính giải phóng ra các enzym gây phản ứng viêm và phá hủy khớp. Các tương bào (plasmocytes) của màng hoạt dịch viêm khớp dạng thấp tiết quá mức các globulin miễn dịch. Một số trong số này là các yếu tố dạng thấp, đa số thuộc nhóm IgG, một số thuộc nhóm IgM. Các globulin miễn dịch do màng hoạt dịch tiết ra tham gia tạo nên các phức hợp miễn dịch, được phát hiện bằng các phương pháp khác nhau, ở máu và dịch khớp; dường như ở dịch khớp có nồng độ cao hơn ở huyết thanh.
Kháng nguyên là các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể gây khỏi phát một chuỗi các phản ứng miễn dịch, trong đó các tế bào lympho T đóng vai trò then chốt. Các tế bào lympho T, sau khi tiếp xúc với kháng nguyên, sẽ tập trung nhiều ở các khớp bị ảnh hưởng và giải phóng ra các cytokin. Vai trò của các cytokin này là tác động lên các tế bào khác, trong đó có ba loại tế bào chủ yếu: lympho B, đại thực bào và tế bào nội mô mạch máu màng hoạt dịch. Dưới tác động của các cytokin trên, các tế bào lympho B sẽ sản xuất ra yếu tô” dạng thấp có bản chất là các immunoglobulin, từ đó tạo ra các phức hợp miễn dịch lắng đọng trong khớp và gây tổn thương khớp. Các cytokin cũng hoạt hoá đại thực bào sản xuất ra các cytokin khác gây kích thích các tế bào màng hoạt dịch, tế bào sụn, nguyên bào xơ… tăng sinh, xâm lấn vào sụn tạo thành màng máu. Các tế bào trên, đến lượt mình giải phóng ra một loạt các enzym như collagenase, stromelysin, elastase… gây huỷ hoại sụn khớp, xương. Các cytokin do tế bào lympho T tiết ra còn hoạt hoá các tế bào nội mô mao mạch màng hoạt dịch sản xuất ra các phân tử kết dính, thu hút các loại tế bào viêm đến khoang khớp. Các tế bào viêm này đến lượt mình lại giải phóng ra các cytokin khác… Hậu quả của các quá trình này là hình thành màng máu, huỷ hoại sụn khớp, đầu xương dưới sụn, CUỐI cùng dẫn đến xơ hoá, dính và biến dạng khớp.

Yếu tố nhiễm khuẩn: có một số giả thuyết cho rằng, một số virus hay vi khuẩn phổ biến tác động vào yếu tố cơ địa thuận lợi (cơ thể suy yếu, mệt mỏi, chấn thương, phẫu thuật, mắc bệnh truyền nhiễm), hoặc yếu tố môi trường (lạnh ẩm kéo dài) làm khởi phát bệnh. Mặc dù một vài nghiên cứu đã tìm thấy một số bằng chứng về vai trò của các virus như Epstein-Barr virus, Parvo virus. Lenti virus, Rubella virus… hoặc các vi khuẩn: Mycoplasma, Mycobacteria, vi khuẩn đường ruột, song cho đến nay, chưa có chính xác một tác nhân nhiễm khuẩn nào được chứng minh.

Các yếu tố ảnh hưởng

Tuổi: trong bệnh viêm khớp dạng thấp, tỷ lệ nữ cao gấp 4 lần nam giới. Sự chệnh lệch này giảm đi đôi chút theo tuổi. Có một số nghiên cứu (tuy không phải là tất cả các nghiên cứu) nhận thấy bệnh ít gặp hơn ở phụ nữ dùng thuốc tránh thai đường uống.

Yếu tố di truyền: từ lâu người ta đã nhận thấy bệnh viêm khớp dạng thấp có tính chất gia đình. Nhiều nghiên cứu về cha mẹ những người mắc bệnh viêm khớp dạng thấp cho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp cao hơn hai đến ba lần so với tỷ lệ của cha mẹ nhóm chứng. Tuy nhiên, không phải tất cả các nghiên cứu đều khẳng định sự phù hợp này. Một nghiên cứu lớn trên hàng ngàn cặp sinh đôi ở Phần Lan (1986) cho thấy có sự phù hợp ở 12% các cặp sinh đôi đồng hợp tử và 3,5 % các cặp dị hợp tử. Điều này cho thấy có thể có sự tương tác giữa các yếu tố di truyền và không di truyền. Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu nói lên mối liên quan giữa bệnh viêm khớp dạng thấp và yếu tố kháng nguyên phù hợp tổ chức HLA, điều này chứng tỏ yếu tô” di truyền của bệnh này. Tỷ lệ kháng nguyên DR4 tăng rõ nét ỏ nhóm bệnh nhân viêm khớp dạng thấp huyết thanh dương tính: 50 — 60% trong khi chỉ 15 – 25% ở nhóm chứng. Nguy cơ tương đối kết hợp với DR4 là 6 – 12% ở người da trắng. Cũng có sự kết hợp này ở người Nhật, người da đen và người châu Mỹ La tinh. Một số nghiên cứu khác lại cho thấy có mỗi liên quan với HLA DR1. Cuối cùng, không có mối liên quan nào theo kết quả của các nghiên cứu trên các chủng tộc Ấn, Hy Lạp, Bắc Ý, Thái. Chưa có nghiên cứu nào trên người Việt Nam về các mối liên hệ giữa nhóm HLA và nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp. Nói chung, DR4 dường như xuất hiện thường xuyên hơn ở các thể nặng: tỷ lệ DR4 cao ở các bệnh nhân có yếu tố dạng thấp rõ, hoặc có hạt dưới da, có tổn thương viêm mạch, có tổn thương phổi hoặc hội chứng Felty. Nhiều công trình cũng cho thấy ở các bệnh nhân mang DR4 hoặc Dw4 cũng thường biểu hiện tổn thương bào mòn ở xương hơn những người không mang yếu tố này…
Các yếu tố môi trường dường như rất quan trọng. Tuy nhiên, các nghiên cứu dịch tễ không cho phép khẳng định điều này. Mặc dù bệnh thường gặp ỏ các vùng lạnh và ẩm, song không có bằng chứng nào thật sự khẳng định điều này. Không có sự khác biệt về tỷ lệ bệnh giữa các vùng miền núi hay thành thị, hoặc giữa các nhóm nghề nghiệp khác nhau.

dieu tri thoai hoa cot song co

cách chữa thoái hóa đốt sống lưng

thuoc dieu tri thoai hoa cot song that lung