Kéo dãn đốt sống cổ trong điều trị thoát vị đĩa đệm

25/11/2016 03:33
  1. Kéo giãn cột sống cổ

Phương pháp kéo giãn cột sông cô do Wildhagen (1952) đề xuất, là phương pháp điều trị bệnh sinh TVĐĐ và thoái hoá đĩa đệm vì nó làm giảm áp lực trọng tải mạnh, tạo điều kiện cho nhân nhầy đĩa đệm chuyển dịch hướng tâm và tăng cường các chất chuyển hoá vào trong đĩa đệm.

Kết quả kéo giãn còn phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân trong việc chọn phương thức kéo giãn, tư thế kéo giãn, trọng lượng kéo, thòi gian kéo và kỹ thuật kéo cho từng bệnh nhân.

     2. Cơ chế tác dụng của kéo giãn cột sống cổ

Chủ yếu là làm tăng khoảng cách giữa các đốt sống, gây nên:

  • Giảm trọng tải lên cột sống cổ
  • Áp lực bên trong đĩa đệm giảm.

Dẫn đến giảm phần đĩa đệm bị thoát vị

Dẫn đến sự chênh lệch áp lực giữa khoang nội và khoang ngoại đĩa đệm sẽ làm tăng tốc độ của dòng chảy dịch thể vào đĩa đệm.

  • Đường kính dọc của các lỗ gian đốt sống tăng do đó giảm đè ép vào các rễ thần kinh vì đám rối tĩnh mạch cạnh sống không bị ứ máu, hết phù nề.
  • Giảm co cứng cơ bệnh lý ở các cơ cạnh sống.
  • Các diện khớp của đốt sống cổ không ép chặt vào nhau, tạo điều kiện cho các khốp này nếu bị sai lệch có thể trượt về vị trí bình thường.

3. Chỉ định kéo giãn cột sống cổ

  • TVĐĐ loại sau bên
  • TVĐĐ cột sống cổ không có rối loạn vận động nặng.
  • TVĐĐ cột sốhg cổ mà tình trạng sức khoẻ chung không cho phép điều trị ngoại khoa.
  • Thoái hoá đĩa đệm cột sông cổ.

4. Chống chỉ định kéo giãn cột sống cô

  • TVĐĐ cột sống cổ có hội chứng chèn ép tuỷ
  • Có cầu xương giữa các đốt số
  • Lao cột sống cổ.
  • u ác tính cột sống cổ.
  • Đang có bệnh cấp tính hoặc bệnh nội khoa nặng.

5. Kỹ thuật kéo giãn cột sống cổ

  • Kéo giãn bằng máy điều chỉnh hoặc bằng trọng lực (kéo qua ròng rọc).
  • Tư thế bệnh nhân nằm hoặc ngồi (nằm tốt hơn). Tư thế nằm cần một lực kéo nhỏ hơn khi ngồi vì do sự mất trọng tải của đầu và tư thế nằm cơ dễ giãn hơn. Tư thế ngồi, cổ để tự do dễ kéo giãn nhưng dễ gây cảm giác sỢ, chóng mặt, mệt mỏi khi kéo và sau khi kẻo thường không chú ý đến cách làm cho trương lực cơ cổ đang nhẽo từ từ co lại.
  • Quang treo Glisson để đỡ cằm và vùng chẩm.
  • Góc kéo ỏ tư thế cổ gấp khoảng 20° (không kéo giãn ở tư thế duỗi cột sống cổ vì làm hẹp lỗ gian đốt sống và làm căng các cơ mặt trước.

Trường hợp TVĐĐ một bên, cần nghiêng nhẹ đầu sang bên lành (khoảng 10°) trong khi kéo để bên được kéo giãn chủ yếu là bên bị thoát vị, để giúp mỏ lỗ gian đốt sống ở bên đó nhiều hơn.

  • Lực kéo giãn cột sống cổ: việc lựa chọn trọng lượng kéo phải dựa vào trọng lượng cơ thể và sức chịu đựng của bệnh nhân, thường thì trọng lượng kéo tăng dần từ 3 đến 6 cân (khoảng 1/10 trọng lượng cơ thể bệnh nhân). Nếu TVĐĐ ỏ vị trí thấp hơn cột sống CVI, trọng lượng kéo có thể tăng tới 1
  • Thòi gian kéo giãn: mỗi lần kéo từ 15 đến 20 phút, ngày kéo 1 đến 3 lần và một liệu trình kéo là 10 đến 20 ngày.

Nếu kéo giãn với trọng tải lớn và thòi gian kéo dài có thể làm cho bao khớp gian đốt sống căng ra và làm giảm sự vững chắc của các khoang gian đốt sống.

– Sau khi kéo giãn nằm nghỉ khoảng 15 phút hoặc đeo đai cổ 1 -2 giò.

Khi kéo giãn, nếu đau tăng lên thì phải giảm bốt trọng lực kéo, nếu vẫn đau tăng thì phải ngừng kéo giãn. Thường kéo giãn làm đau tăng là do giảm áp lực trong khoang gian đốt sống, đĩa đệm tăng thể tích nhanh sẽ gây đau tăng lên hoặc do mảnh nhân nhầy thoát vị kẹt trong ống sống hoặc do rễ thần kinh dính vào mảnh đĩa đệm bị thoát vị hoặc bị dính các rễ thần kinh sau phẫu thuật đĩa đệm.

thuoc dieu tri viem khop

thoai hoa dot song co uong thuoc gi

đau cột sống cổ

6. Khung kéo giãn cột sống cổ (Hồ Hữu Lương, 1978)

Từ 1977, Khoa nội thần kinh Viện quây y 103 đã làm một dụng cụ kéo giãn cột sống cổ có thể di chuyên được (xem Hồ Hữu Lương – Bệnh học thần kinh, Nhà xuất bản Y học, 1996, trang 35, hình 12). Dụng cụ này gồm một cột, phía trên cột có một thanh ngang, hai đầu thanh ngang có hai ròng rọc. Cột này được hàn đứng trên một tấm sắt, dưới tấm sắt có 4 bánh xe để di chuyển dụng cụ này khi cần thiết. Khi kéo giãn thì đặt thêm một chiếc ghế trên tấm sắt này cho bệnh nhân ngồi. Nhược điểm của dụng cụ này là khá nặng nề. Từ 1978, Hồ Hữu Lương đã tự tạo “khung kéo giãn cột sống cổ” tư thế ngồi (hình 7.4) và tư thế nằm (hình 7.7). Khung kéo giãn cột sống cổ tư thế ngồi làm bằng sắt (ị) 8, hình tam giác vuông, chiều cao 30cm, đáy 50 cm, đường huyền 58,3 cm, có một móc ở đỉnh và một miếng sắt hình chữ nhật (dài 6 cm, rộng 3cm, dầy 0,2cm, ỏ dưói có một khe dài 1 cm, rộng 0,4cm) được hàn vào phía dưới chân chiều cao của khung này. Do đó “khung kéo giãn cột sống cổ” có thể mắc vào hai cái đinh ở trên tường (hình 7.5) hoặc mắc vào hai cái chốt ở trên một cột đắ được gá chặt vào một cái ghê bằng hai bộ gá nhỏ (hình 7.6). Hai bộ gá này có thê lắp vào (hoặc tháo ra) dễ dàng (không phải khoan lỗ vào ghế. Do đó có thể di chuyển vị trí kéo giãn dễ dàng.

Trên cạnh góc vuông của “khung kéo giãn cột sống cổ” có 2 ròng rọc. Ròng rọc thứ nhất hàn cố định ở vị trí cách góc vuông 5 cm. Ròng rọc thứ hai có thêm một ốc hãm để có thể cố định ròng rọc này vào sát góc nhọn khi mắc “khung kéo giãn cột sông cổ” vào tường hoặc ccí định ròng rọc ở cách góc nhọn 8 cm khi mắc “khung kéo giãn cột sông cổ” vào một bộ gá (hình 7.5) để cho góc kéo ở tư thế cổ gấp 20°.

Dây kéo giãn được nối từ “đòn gánh” (đã được mắc quang treo vào đầu bệnh nhân) cho đến quả cân đặt trên đất. Nơi dây kéo giãn cách quả cân khoảng 40 cm có một móc sắt và trên đó khoảng 35 cm có một vòng sắt (hình 7.5) để khi kéo giãn chỉ cần kéo móc sắt lên và móc vào vòng sắt lên và móc vào vòng sắt (như vậy kỹ thuật viên không phải cúi nhặt các quả cân đặt trên đất khi bắt đầu cho bênh nhân kéo giãn).

Có thêm một sợi dây chun buộc từ “đòn gánh” đến chân chiều cao của “khung kéo giãn côt sống cổ” (hình 7.5) để khi không kéo giãn thì “đòn gánh” được kéo lên chạm vào ròng rọc thứ hai. Khi bắt đầu kéo giãn thì kỹ thuật viên kéo “đòn gánh” xuống mắc vào hai đầu dây quang. Dây quang được căng ra nhờ có dây chun này (như vậy động tốc mắc quang treo đỡ lúng túng).

“Khung kéo giãn cột sống cố tư thế nằm” của Hồ Hữu Lương (1978) là một ròng rọc được gắn vói một trục (có ren) xuyên qua thành giường, có 2 ôc được cố định vào trên và dưới thành giường; phía trên của trục có tay nắm, phía dưới trục có thanh ngang do đó có thể điều chỉnh ròng rọc lên xuống dễ dàng. Khung kéo giãn cột sông cổ này điếu chỉnh được hướng kéo cho từng bệnh nhân, bệnh nhân cảm thấy thoái cảm; kết hợp với chiếu tia hồng ngoại vùng cô sau khi kéo giãn mà không cần phải thay đổi tư thế nhiều.

Gồm một cột có hai chốt ở trên dùng để mắc “khung kéo giãn cột sống cổ”, cột được gá vào một cái ghế bằng hai bộ gá (có thể tháo ra, lắp vào). Do đó có thể di chuyển vị trí kéo giãn dễ dàng.

Gồm “quang treo”, “đòn gánh” và “dây kéo”:

  • “Quang treo” gồm ba phần bằng vải giả da mềm hoặc nỉ (hai lớp). Phần A để đỡ cằm, hình thang cân, đáy nhỏ 18cm, đáy lớn 20cm, chiều cao llcm; hai bên được khâu gấp thành ống rông để dây quang (K) chạy qua. Phần A được cắt bỏ đi một hình thang nhỏ, hình thang này có chiều cao là 4,5 cm (hình 7.9). Do đó khi kéo giãn, dây quang không đè ép vào má. Phần B để đỡ vùng gáy, hình chữ nhật dài 18cmrộng 6cm, hai bên cũng khâu thành ố Phần c để đỡ vùng chẩm, hình thang, đáy nhỏ 19cm, đáy lớn 20cm, chiều cao 4,5cm, hai bên cũng khâu thành ống cho dây quang (K) chạy qua. Hái dây quang (K) bằng dây dù mềm, sau khi luồn vào các ống của phần A,B,C thì khâu nối hai đầu dây lại (sao cho mỗi vòng dây có chu vi là 52cm).
  • “Đòn gánh” (D) gần giống hình thang cân (hình 7.9), có đáy lớn 33cm, đáy nhỏ 22 cm, chiều cao 13cm.
  • “Dây kéo” (L) dài khoảng 50cm, một đầu nốỉ với đòn gánh (D), đầu kia có một cái móc để treo đĩa cân.

Ưu điểm của quang treo có ba phần bằng chất liệt mềm, có hình dáng hợp lý cùng với đòn gánh giông hình thang đủ rông nên khi kéo giãn không gây chèn ép vào họng, má và mạch máu vùng cổ, mặt. Có thể điều chỉnh góc kéo ở tư thế cổ gấp 20°: khi đó bệnh nhân cảm thấy sức kéo ở cằm và vùng gáy đều nhau (chỉ cần điều chỉnh khoảng cách của dây kéo (L) từ đòn gánh (D) đến ròng rọc (H)). Có thể điều chỉnh dây quang (K) để kéo ưu tiên một bên bệnh (bằng cách quấn từ 1 đến 2 vòng vào đầu đòn gánh (D) để cho dây quang (K) bên bệnh ngắn hơn bên lành). Do đó bên được kéo chủ yếu là bên bị thát vị đĩa đệm). Bệnh nhân cảm thấy dễ chịu, thoải mái trong khi kéo giãn.