Hội chứng tủy

23/11/2016 03:15

Từ 1928 Stookey đã mô tả hội chứng chèn ép mạn tính tuỷ cổ do thoát vị đĩa đệm, đến 1952 Allen và 1954 Brain cho rằng ngoài nguyên nhân do thoát vị đĩa đệm, các tác giả còn gặp nguyên nhân do gai xương ở thân đốt sống cổ.
Năm 1973, Yumashev, Eurmann đã mô tả các hội chứng thường gặp của HXSCSC, bao gồm các hội chứng: hội chứng rễ, hội chứng động mạch đốt sống, hội chứng rối loạn thực vật – dinh dưỡng nội tạng và hội chứng tuỷ (spinal syndrome).
Hội chứng tuỷ: do THCSC là biểu hiện nghiêm trọng nhất của THCSC và là nguyên nhân phổ biến nhất của hội chứng tuỷ ở người cao tuổi.
1. Nguyên nhân của hội chứng tuỷ cổ
– Do THCSC, các gai xương xuất phát từ thân đốt sống hay mỏm móc chèn ép tuỷ mạn tính thường xảy ra ở người cao tuổi và diễn biến kéo dài.
Lồi đỉa đệm do THCSC có thể chèp ép tuỷ còn gọi là bệnh tuỷ do đĩa đệm (diskogenic myelopathy).
– Chấn thương cột sống cổ gây nên tăng ưỡn (duỗi quá mức) cột sông cổ cấp tính hoặc mạn tính gây kích thích tuỷ quá mạnh hoặc làm sai khớp đốt sống cổ nhẹ gây thương tôn tuỷ.
– Các yếu tố khác như viêm màng nhện tuỷ, rối loạn cung cấp máu cho tuỷ dẫn đến bệnh tuỷ do thiếu máu cục bộ (ischaemic myelopathy).
2. Lâm sàng của hội chứng tuỷ do thoái hoá cột sống cổ
Thường giống xơ cứng cột bên teo cơ (lateral amyotrophic sclerosis) hay bệnh Charcot, bệnh rỗng tuỷ sống (syringomyelia) và u ngoài tuỷ (extramedullary tumor):
– Khởi phát từ từ
– Biểu hiện đầu tiên là: dáng đi không vững, cảm giác tê ỏ thân, sự vụng về của bàn tay và các ngón tay.
– Tiến triển chậm 10-15 năm, các triệu chứng nặng dần, liệt và teo cơ rõ dần:
Liệt chân hoặc tay.
Tăng phản xạ gân xương, một số bệnh nhân có phản xạ bệnh lý bó tháp (Babinski, Hoffmann).
Rối loạn cảm giác: tê bì ngọn chi trên kèm theo giảm cảm giác kiểu dẫn truyền dưới mức chèn ép tuỷ 5 hoặc 6 đốt sống, một sô” bệnh nhân có dấu hiệu Lhermitte.
Rối loạn cơ vòng: có thể rối loạn cơ vòng bàng quang, trực tràng và sinh dục.
Teo cơ ngọn chi.
Nurick đã phân chia mức độ bệnh lý tuỷ do THCSC chủ yếu dựa vào khó khăn khi đi bộ (theo Clark, 1991):
Độ 0: có dấu hiệu hoặc triệu chứng của thương tổn rễ nhưng không có dấu hiệu của thương tổn tuỷ sông.
Độ 1: có dấu hiệu thương tổn tuỷ nhưng đi bộ chưa khó khăn, dáng đi bình thường.
Độ 2: đi bộ hơi khó, dáng đi thay đổi nhẹ, vẫn còn làm việc được.
Độ 3: đi bộ khó khăn, dáng đi bất thường, vẫn có khả năng làm được công việc trong nhà nhưng không làm được những việc đòi hỏi phải đi lại.
Độ 4: chỉ đi được khi có người dìu hoặc chông gậy.
Độ 5: chỉ ngồi trên ghế hoặc nằm liệt giường.
Hiệp hội chỉnh hình Nhật Bản đã đề xuất bảng đánh giá mức độ thương tổn tuỷ do THCSC gồm 4 phần chính (theo Clark, 1991):

chữa thoái hóa đốt sống cổ bằng thuốc nam

bệnh thoái hóa đốt sống lưng

thoái hóa khớp

1. Mất vận động chi trên:
Điểm 0: không tự xúc ăn được.
Điểm 1: ăn được bằng thìa, không cầm được đũa.
Điểm 2: cầm được đũa nhưng rất khó khăn
Điểm 3: cầm được đũa nhưng hơi khó một chút. Điểm 4: không có gì bất thường.
2. Mất vận động chi dưới:
Điểm 0: không có khả năng làm việc
Điểm 1: đi bộ trên sàn phẳng phải có gậy chống.
Điểm 2: lên xuống gác phải vịn lan can.
Điểm 3: thiếu sự vững vàng và nhịp nhàng khi đi lại. Điểm 4: không có gì bất thường.
3. Rối loạn cảm giác:
A. Chi trên.
Điểm 0: mất cảm giác hoàn toàn hoặc đau.
Điểm 1: giảm cảm giác nhẹ.
Điểm 2: không có gì bất thường.
B. Chi dưới: như A. c. Thân mình: như A
4. Rối loạn cơ thắt:
Điểm 0: không tự đái được.
Điểm 1: đái khó, đái són.
Điểm 2: đái hơi khó, đái dắt, đái ngắt quãng. Điểm 3: không có gì bất thường.
cổ: đau thường xuyên (60% tru y
ngủ dậy (32% trường hợp). Cường là đau mỏi hoặc đau ê ẩm cột sống hoặc đau cột sống cổ kết hợp với co cú. ạnh sống, cơ ức đòn chũm, cơ thang) ở một L .loặc cả hai bên, thường xuất hiện sau khi quay đầu mạnh và đột ngột.
– Cảm giác nặng đầu vùng chẩm hoặc sau gáy.
– Hạn chế vận động cột sống cổ. b. Giai đoạn sau
Tuỳ theo vị trí thương tổn cột sống cổ mà các triệu chứng lâm sàng của bệnh có thể xuất hiện riêng lẻ hay kết hợp giữa 5 hội chứng (hội chứng cột sống cổ, hội chứng rễ thần kinh cổ, hội chứng động mạch đốt sống, hội chứng thực vật dinh dưỡng và hội chứng tuỷ). Tuy nhiên không phải bất kỳ bệnh nhân THCSC nào cũng đều có đầy đủ 5 hội chứng trên. Trong các hội chứng của THCSC thì tuỳ theo từng bệnh nhân mà có thể có hội chứng này nổi bật hơn là hội chứng cột sống _é rễ (chiếm 47%), sau đó là sự hội chứng (hội chứng cột sống cổ, hội _ và hội chứng động mạch đốt sống) chiếm
2. Bệnh tiến triển thành từng đợt nặng dần có thời gian hoàn toàn không có triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng THCSC được biểu hiện trên lâm sàng thành từng đợt nặng dần, mỗi đợt kéo dài vài ngày cho đến vài tháng, xen kẽ có thòi gian hoàn toàn bình thường, thường tái phát khi vận động cột sống cổ mạnh và đột ngột, khi thay đổi thòi tiết, khí hậu và thường tái phát vào mùa lạnh.
Trong THCSC, hội chứng rễ, hội chứng động mạch đốt sống được gây ra bởi sự chèn ép hay kích thích của gai xương hoặc mấu khớp trên (trong trường hợp sai khớp sông). Những gai xương tồn tại thường xuyên nhưng lại có thời gian hoàn toàn không có triệu chứng lâm sàng. Đó là do dưới tác động của một số yếu tố bất lợi (stress) có thể gây phù nề chèn ép. Những trường hợp đau rễ kéo dài có thể chèn ép trực tiếp bởi gai xương.