Hội chứng rễ thần kinh cổ

25/11/2016 01:00
  1. Lâm sàng

Hội chứng cột sổng cổ và rối loạn cảm giác là những triệu chứng nổi bật nhất của TVĐĐ cột sống cổ có hội chứng rễ (bảng 4.4). Các triệu đau, rối loạn cảm giác, vận động và phản xạ tương ứng với vùng phân bô” của rễ thần kinh cổ bị thương tổn, teo cơ khi rễ bị chèn ép lâu ngày.

  1. Rối loạn cảm giác kiểu rễ
  2. Đau kiểu rễ cổ

Là triệu chứng thường gặp và xuất hiện sớm nhất.

  • Khởi phát: thường đột ngột sau một chấn thương, đau theo cùng do một rễ thần kinh cổ chi phối, thường đau vùng gáy lan xuống vùng liên bả vai, rồi xuống vai, rồi xuống vai, cánh tay, cẳng tay và ngón tay (lan theo dải phân bô” cảm giác rễ thần kinh cô bị thương tổn). Biểu hiện lâm sàng bằng hội chứng vai – gáy hoặc hội chứng vai – cánh tay (scapulobrachial syndrome).
  • Tính chất đau
  • Thường đau sâu trong cơ xương, cảm giác nhức nhối khó chịu, có khi đau nhói như điện giật. Đau cô thường giảm nhanh, trong khi đau ở vai và tay thì ngày càng tăng, khó xác định rõ ràng điểm đau cột sống và điểm đau cạnh sống như trong TVĐĐ cột sống thắt lưng.
  • Đau có tính chất cơ học:

+ Đau xuất hiện và tăng lên khi trọng tải trên cột sông cô tăng (khi đứng, đi, ngồi lâu).

+ Đau tăng khi ho, hắt hơi: chủ yếu gặp trong TVĐĐ có hội chứng rễ, có thể do khi ho, hắt hơi gây tăng áp lực trong ngực và bụng (chủ yếu tác động đến các rễ thần kinh ở thắt lưng nhiều hơn là ỏ cổ).

+ Đau tăng khi vận động cột sống cổ.

+ Đau giảm khi trọng tải trên cột sông cổ giảm.

+ Đau giảm khi kéo giãn cột sông cổ: theo Yumashev và Furman là do:

  • Đường kính dọc của lỗ gian đốt sống tăng lên sẽ làm giảm đè ép thần kinh.
  • Giảm tải trọng lên cột sống cổ sẽ làm giảm đè ép đĩa đệm, do đó làm giảm thể tích phần đĩa đệm bị thoát vị.
  • Giảm bớt sự co cứng cơ bệnh lý

+ Đau thường giảm khi điều trị nội khoa (điều này khác vối đau rễ do các căn nguyên chèn ép khác).

  • Tiến triển

Thường không liên tục, có thể đau tại cột sống cổ nhiều đợt sau đó mới lan xuống dưới, mỗi đợt lại lan xa hơn xuống chi.

Các đợt đau có cường độ khác nhau và thường đau rồi lại đỡ.

  • Một sô” dấu hiệu đánh giá thương tổn rễ thần kinh cô.
  • Nghiệm pháp Schpurling: đau rễ xuất hiện khi thầy thuốc tỳ lên đầu bệnh nhân trong khi bệnh nhân nghiêng đầu sang bên đau do làm hẹp lỗ gian đốt sông và có thể làm tăng thể tích phẫn đĩa đệm lồi ra. Theo Hồ Hữu Lương và cs (2002), nghiệm pháp

viêm khớp ngón tay

benh dau cot song

thuốc chữa xương khớp

Schpurling gặp ở 44,44% bệnh nhân TVĐĐ cột sống cổ có hội chứng rễ.

  • Dấu hiệu chuông bấm (Sigen de la sonnette): ấn điểm cạnh sống cổ (tương ứng với lỗ gian đốt sống) xuất hiện đau từ cổ lan dọc xuống vai và tay theo sự phân bố của rễ bị chèn ép. De Sèz và Leuvernieux coi dấu hiệu chuông bấm là “dấu hiệu thoát vị đĩa đệm vì nó đặc hiệu cho TVĐĐ, hầu như không xuất hiện trong các bệnh khác. Nhưng theo Ass La. K (1971), Arseni (1974) và nhiều tác giả khác thì dấu hiệu chuống bấm không nhậy, độ đặc hiệu cao nhưng không phải là tuyệt đối vì nó còn có thể xuất hiện trong chèn ép rễ do một số” cơ chế khác. Dấu hiệu này là chỗ dựa để xác định mức của đĩa đệm thoát vị. Theo Hồ Hữu Lương và cs (2002) dấu hiệu chuông bấm gặp ở 22,22% bệnh nhân TVĐĐ cột sống cổ có hội chứng rễ.
  • Nghiệm pháp căng rễ thần kinh cổ:

+ Nghiệm pháp nghiêng – xoay đầu về bên lành (của Hồ Hữu Lương, 2000): bệnh nhân ngồi nghiêng – xoay đầu về bên lành, thầy thuốc giữ cô” định vai bên bệnh đồng thời đẩy từ từ đầu bệnh nhân về bên lành, nếu xuất hiện đau dọc theo rễ bị thương tổn là nghiệm pháp nghiêng – xoay đầu về bên lành dương tính.

+ Nghiệm pháp cằm chạm xương ức (của Hồ Hữu Lương, 2000): bệnh nhân ngồi ngay ngắn, thầy thuốc đặt tay lên vùng chẩm, ấn cho cằm bệnh nhân chạm vào xương ức, nếu xuất hiện đau dọc theo rễ bị thương tổn là biện pháp cằm chạm xương ức dương tính. Nghiệm pháp này rõ nhất là khi bị TVĐĐ ỏ đoạn cổ dưới (vì bình thường, trong tư thế gấp cổ, tuỷ sẽ bị kéo dài lên trên, các rễ thần kinh cổ dưới bị căng nhiều hơn và lỗ gian đốt sống bị hẹp lại.

  • Nghiệm pháp chùng rễ thần kinh cổ: bệnh nhân ngồi, thầy thuốc nâng cánh tay lên đầu và đưa ra sau, các triệu chứng rễ giảm hoặc mất là nghiệm pháp chùng rễ thần kinh cổ dương tính.
  • Nghiệm pháp giạng vai: bệnh nhân ngồi, thầy thuốc nâng tay bệnh nhân lên trên đầu. Khi các triệu chứng rễ giảm hoặc mất là nghiệm pháp dương tính.
  • Nghiệm pháp kéo giãn cột sống cổ của Hồ Hữu Lương (1995)

Bệnh nhân ngồi trên ghế, hai tay đặt lên đầu gối, cổ mềm mại. Thầy thuốc đứng phía sau và hơi lệch sang bên phải bệnh nhân, tay phải luồn dưới cằm, nếp gấp khuỷu đõ cằm bệnh nhân (phần tay đỡ cằm đã được chải trước bằng một khăn mô nhỏ: champ). Bàn tay phải ôm nhẹ đầu bệnh nhân. Ngón cái và ngón trỏ tay trái đỡ dưới xương chấm và đẩy cho đầu bệnh nhăn gấp khoảng 15 độ. Tay phải từ từ kéo xương hàm dưới lên đồng thời tay trái đẩy xương chẩm lên với một lực khoảng 10 kg và giữ nguyên trong 5 giây. Nếu các triệu chứng rễ thần kinh cô giảm hoặc mất là nghiệm pháp dương tính (hình 1.9).

Theo tác giả, nghiệm pháp kéo giãn cột sống cổ (Np.KG/CSC) của Hồ Hữu Lương dương tính tới 88,8% trường hợp thoát vị đĩa đệm cột sống cổ có hội chứng rễ.

Giảm cảm giác kiểu rễ cổ

Giảm cảm giác nông do rễ thần kinh bị chèn ép chi phối (đôi khi có cả rối loạn cảm giác sâu) nhưng nhiều khi ranh giới vùng giảm cảm giác không rõ ràng. Trường hợp có rối loạn cảm giác sâu thường biểu hiện đau ở vai, cánh tay (gốc chi) với cảm giác đau sâu trong xương, nhức buốt rất khó chịu làm bệnh nhân mất ăn, mất ngủ. Ranh giới của rối loạn cảm giác sâu cũng không rõ ràng.

Vị trí rối loạn cảm giác có giá trị chẩn đoán định khu rễ thần kinh bị thương tổn: da vùng sau đầu trong thương tổn rễ C2, vùng gáy – rễ C3, vùng cơ thang – rễ C4, vùng mỏm vai – mặt ngoài cánh tay- rễ Cg, ngón cái – rễ C6, ngón giữa – rễ C7, ngón út – rễ C8. Tuy nhiên theo Clark (1991) các triệu chứng rối loạn cảm giác thường có thể quy cho từng rễ riêng biệt, nhưng phải lưu ý có sự đan xen, gối lên nhau giữa các khoanh da và đôi khi khó xác định rõ ranh giới của khoanh da bị thương tổn. Theo Hồ Hữu Lương và cs (2002), triệu chứng đau và giảm cảm giác kiểu rễ cổ trong TVĐĐ cột sống cô nhóm có hội chứng rễ là 88,88%, ở nhóm rễ – tuỷ là 57,14%. Vối những bệnh nhân TVĐĐ có yếu tố chấn thương cột sông cổ, triệu chứng đau và giảm cảm giác kiểu rễ cổ thường khởi phát cấp tính ngay sau chấn thương.

 

Cảm giác tê bì, kiến bò, đau cháy (cam vùng da do rễ thần kinh bị chèn ép chi ị gặp ỏ TVĐĐ cột sống cổ có hội chứng rễ — tu>

Đau và cảm giác tê bì ở đầu ngón tay lả triệu chứng thường gặp và xuất hiện sớm trong TVĐĐ cột sống cô có hội chứng rễ, hội chứng rễ – tuỷ và cũng là lý do khiến bệnh nhân đi khám bệnh. Tê bì ở đầu ngón tay làm cho bàn tay cử động vụng về, mất khéo léo, không làm được các động tác chính xác, nhưng khám sức cơ vẫn bình thường.

Theo Batzdorf (1991), 64% có triệu chứng tê bì ở nhóm TVĐĐ cột sông cổ có hội chứng tuỷ và 57% ở nhóm có hội chứng rễ. Theo Hồ Hữu Lương và cs (2002), 71,42% có triệu chứng tê bì ngọn chi ở nhóm TVĐĐ cột sống cổ có hội chứng rễ – tuỷ, 57,14% ở nhóm có hội chứng tuỷ và 33,33% ở nhóm có hội chứng rễ.