Hội chứng lâm sàng đốt sống

23/11/2016 01:10

Hội chứng động mạch đốt sống (syndrome of vertebral artery) được Barré mô tả đầu tiên (1926), sau đó được Líeou (1928) mô tả tỷ mỉ hơn, các tác giả này gọi nó là hội chứng giao cảm cổ sau (posterior cervical sympathetic syndrome). Các tác giả khác gọi là migraine cổ (Bartschi – Rochaix, 1948), hội chứng động mạch đốt sống hay hội chứng đám rối giao cảm động mạch đốt sống (syndrome of the a. vertebralis sympathetic plexus) (Reischaner, 1949; Kovacs, 1955; Jackson, 1956; Ratner, 1970…)

Hội chứng động mạch đốt sống chiếm khoảng 35% trường hợp THCSC

– Đau đầu vùng chẩm từng cơn: chiếm khoảng 30% bệnh nhân THCSC. Đau lan tới vùng đỉnh, thái dương hoặc lan tối hốc mắt, thường đau một bên, hay đau vào buổi sáng. Đau thon thót từng cơn kèm buồn nôn. Test kéo giãn cột sống cổ làm giảm đau đầu.

Cơ chế đau đầu vùng chẩm là do thiếu máu ở động mạch đốt sông gây thiếu máu ở các nhánh của nó trong đó có nhánh cung cấp máu cho vùng màng não hố sọ sau. Màng não bị thiếu máu gây kích thích thụ thể (receptor) của dây X và nhánh Y1 gây ra đau đầu vùng chẩm lan ra hốc mắt hoặc buồn nôn (theo Deffy và Jacobs (1958).

  • Chóng mặt

Chóng mặt chiếm khoảng 32% bệnh nhân THCSC.

cách chữa bệnh gai cột sống lưng

chữa gai cột sống hiệu quả mà lại rẻ

thoai hoa cot song nen an gi

Chóng mặt từng cơn ngắn xuất hiện khi quay đầu đột ngột. Chóng mặt còn xuất hiện trong cơn đau đầu vùng chẩm kèm theo ù tai. Theo A. c. Levsova (1980), chóng mặt là một triệu chứng khách quan đáng tin cậy của thiểu năng tuần hoàn sông nền (vertebral – basilar insuííìciency) và giải thích là vì động mạch tai trong là một nhánh tận của động mạch tiểu não dưới trước (inferior anterior cerebellar artery) nhưng cũng có trường hợp nó tách ra trực tiếp từ động mạch thân nền.

  • Rung giật nhãn cầu (nystagmus): đặc trưng là rung giật nhãn cầu ngang theo hướng nhất định (chiếm khoảng 5% bệnh nhân THCSC, trường hợp rung giật nhãn cầu không rõ có thể phát hiện rung giật nhãn cầu tư thế bằng nghiệm pháp Kleyne (ngửa cổ và nghiêng đầu quá mức về một bên). Đặc biệt nếu ghi điện láy mắt (nystagmographia) có thể phát hiện được rung giật nhãn cầu khi mắt thường không nhìn thấy rõ.
  • ù tai, ve kêu trong tai: chiếm khoảng 20% THCSC. Một trong các nguyên nhân gây ù tai, ve kêu trong tai là do rốì loạn tuần hoàn tai trong (Theo D. G. Miller (1970) V. A.Romanov (1975), khi đám rối thần kinh giao cảm quanh động mạch đốt sống bị kích thích sẽ gây tăng trương lực mạch làm cho tốc độ dòng máu giảm 1/3, các nhánh tận của nó (nhánh tai trong) giảm đi tối 40% và lưu huyết não đồ có biểu hiện tăng trương lực mạch máu).
  • Đau tai: do đau xuất phát từ rễ C2,C3, đau lan theo dây thần kinh chẩm bé (lesser occipital nerve) và dây thần kinh tai lớn, đau lan ra sau tai, đau ở một tư thế nhất định của đầu.
  • Mờ mắt, tối sầm mắt (giảm thị lực thoảng qua), ám điểm lập loè (scintillating scotome) thường kết hợp với chóng mặt, đau ở hốc mắt.
  • Mò mắt, giảm thị lực thoảng qua chiếm khoảng 25% bệnh nhân THCSC. Theo Yumashev (1973), mò mắt, giảm thị lực thoảng qua là do thiếu máu ở động mạch não sau nhưng được tưới máu bù kịp thời qua đa giác Willis hỏi động mạch thông sau.
  • Nuốt đau, dị cảm ở hầu, cảm giác nghẹn ỏ thực quản.

+ Trong THCSC còn có thể gặp các triệu chứng nuốt đau (khoảng 3%), dị cảm ở hầu (khoảng 6%), cảm giác nghẹn ở thực quản (khoảng 3%) do các gai xương trực tiếp kích thích thần kinh giao cảm, đặc biệt là các nhánh thông hoặc do gai xương lớn ỏ cạnh trước đốt sống cổ chèn đẩy thực quản (có thể phát hiện bằng chụp thực quản cản quang tư thế nghiêng).

+ Các nguyên nhân khác: do phẫu thuật hoặc chấn thương cột sông cổ gây nên ổ máu tụ hoặc phù nề cạnh thực quản.

– Cơn “ngã khuỵu” (drop attacks)

+ ít gặp, chỉ khoảng 0,5% trường hợp THCSC. Theo I. V.Ganyskin (1973), mặc dù có sự chèn ép hoặc kích thích động mạch đốt sông bởi gai xương nhưng triệu chứng thiểu năng sông – nên có thể xay ra hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tô” khác nhau như đáp ứng kịp thời của vòng nốì, huyết áp.

Lâm sàng cơn “ngã khuỵu”: đang đi đột nhiên khuỵu chân xuống và ngã nhưng không mất ý thức, không chóng mặt, cơn rất nhanh, chỉ sau vài giây, lại đứng dậy đi được. Cơn thường xảy ra khi quay đầu đột ngột.