Điều trị cơ gút cấp

12/10/2016 08:26

Mục đích điều trị cơn gút cấp là chông viêm khớp và giảm đau. Các thuốc chống viêm bao gồm thuốc chống viêm không steroid, colchicin, corticosteroid(hay corticotropin – ACTH), trong đó thuốc chống viêm không steroid được ưu tiên hàng đầu. Lựa chọn thuốc tuỳ theo các bệnh lý kèm theo của bệnh nhân như thận hay dạ dày tá tràng.

Các thuốc chống viêm không steroi

Thuốc chống viêm không steroid là thuốc được lựa chọn hàng đầu để điều trị đợt gút cấp ở hầu hết bệnh nhân và là thuốc lý tưởng để điều trị đợt gút cấp ở bệnh nhân không có bị bệnh dạ dày tá tràng và bệnh thận. Cần điều trị càng sớm càng tốt. Có tác dụng nhanh chóng điều trị gút cấp. Tuy nhiên, cần sử dụng thuốc chống viêm không steroid một cách thận trọng, chỉ trong thòi gian ngắn và vối liều thấp khi có bệnh kèm theo và ở người cao tuổi. Tính độc tiêu hoá, thận, thần kinh trung ương của thuốc gây hạn chế sử dụng thuốc này ở người cao tuổi. Thuốc chông chỉ định ở các bệnh nhân có bệnh thận và loét dạ dày tá tràng, đang dùng thuốc chống đông. Thận trọng với bệnh nhân có tiền sử dị ứng với aspirin, hen hoặc polyp mũi. Các thuốc thường dùng là:

  • Dicloíenac (Voltaren) ông 75 mg, tiêm bắp 1 — 2 ống một ngày trong 2-3 ngày, sau đó chuyển sang uống 100 mg một ngày.
  • Mobic, ông 15 mg, tiêm bắp một ống một ngày trong ba ngày, sau đó chuyển sang uống viên 7,5 mg, uống 2 viên một ngày chia hai lần.

Các thuốc chông viêm không steroid chỉ cần dùng trong 2-5 ngày. Khi qua khỏi đợt cấp, có thể duy trì thuốc nhóm này với liều thấp để dự phòng nếu cần thiết. Nếu một thuốc chống viêm không steroid không dung nạp thì có thể dùng loại khác hay colchicin.

  • Colchici

Cơ chê tác dụng của colchicin trong bệnh gút: colchicin có ái lực đặc biệt và tập trung nhiều trong bạch cầu đa nhân trung tính. Nó vẫn còn phát hiện được trong bạch cầu đa nhân trung tính và nước tiểu 10 ngày sau khi uống. Colchicin tương tác với các bước của quá trình viêm được trung gian bởi bạch cầu đa nhân trung tính. Colchicin tạo thành phức hợp tubulin—colchicin, làm đậy nắp đầu gắn kết của các vi ông, có vai trò vận chuyển các chất thực bào vào tiêu thể của bạch cầu. Colchicin cũng ức chế quá trình phosphoryl hoá protein tyrosin, được cảm ứng bởi tinh thể gút. Do vậy colchicin ức chế thực bào tinh thể urat bởi bạch cầu đa nhân trung tính. Colchicin còn ngăn chặn giải phóng các yếu tô” ho á hướng động, giảm độ di động và kết dính của bạch cầu đa nhân trung tính, ức chế tổng hợp leukotrien B4. Colchicìn có tác dụng tốt khi dùng trong 12 — 36 h đầu của đợt gút cấp. Thuốic có tác dụng chông viêm nhưng không có tác dụng giảm đau. Colchicin không làm thay đổi acid uric máu.

Chỉ định colchicin trong đợt cấp của gút: vì tác dụng chống viêm chọn lọc và hiệu quả trong điều trị gút cấp, colchicin là thuốc lựa chọn hàng đầu trong nhiều năm, góp phần giải quyết hoàn toàn cơn gút cấp ở 80% số bệnh nhân trong vòng 48h. Tuy nhiên, hiện nay colchicin ít được ưa chuộng hơn trước đây vì tác dụng chậm hơn các thuốc khác và gây tiêu chảy. Do vậy, người ta chỉ dùng colchicin trong các đợt cấp khi các thuốc chống viêm không steroid hay glucocorticoid có chống chỉ định hay không dung nạp. Tuy nhiên, ỏ Việt Nam, colchicin nên được coi là chỉ định đầu tay trong đợt viêm khớp cấp đầu tiên do có thể đem lại thông tin đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán Bennet-Wood. Colchicin cần chỉ định ngay trong 12 – 36 h đầu của đợt gút cấp. Thuổíc làm thuyên giảm triệu chứng của bệnh trong 6 – 12 h.

Colchicin có thể dùng đường uống hay đường tiêm. Hiện nay người ta không còn dùng colchicin đường tiêm tĩnh mạch vì có nhiều tác dụng phụ như suy tuỷ xương, tổn thương gan, thận, thậm chí tử vong. Thường dùng cochicin đường uống.

Cách 1: đầu tiên dùng đường uống 2 viên 0,5 – 0,6 mg. Sau đó dùng một viên mỗi giờ cho đến khi giảm các triệu chứng, hoặc cho đến khi xuất hiện tác dụng không mong muốn (buồn nôn, nôn, ỉa chảy) hoặc cho đến khi đạt tổng liều là 5 — 7 mg. Liều uống cần giảm ở người có tuổi, và người có suy gan hay thận.

Cách 2: khởi đầu bằng 3 mg (viên nén-1 mg) trong 24 h, chia 3 lần, trong 2 ngày; tiếp theo: 2 mg/24 h, chia hai lần, trong 2 ngày tiếp; sau đó: 1 mg/24 h, duy trì trong 15 ngày để tránh tái phát.

Tác dụng không mong muốn của thuốc: hay gặp nhất là tiêu chảy, nôn, đau bụng. Cần dùng thuốc giảm nhu động và băng niêm mạc kết hợp. Hoặc thay colchicin bằng colchimax (Colchicin có kèm opium để chống ỉa chảy).

Corticosteroid

Trong những năm gần đây, corticoid có xu hướng được chỉ định rộng rãi trong điều trị gút cấp ở các nước tiên tiến. Tuy nhiên, không khuyến khích chỉ định thuốc này ở Việt Nam do sự lỏng lẻo trong quản lý bệnh nhân và tình trạng tự sử dụng thuốc bừa bãi của bệnh nhân nước ta. Nếu dùng kéo dài, thuốc gây tăng acid uric máu, thúc đẩy nhanh quá trình bệnh chuyển thành mạn tính. Một nghiên cứu về tình trạng lạm dụng corticoid ở 63 bệnh nhân mắc bệnh Gút điều trị nội trú tại khoa Cơ Xương Khớp Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9 năm 2007 đến tháng 5 năm 2008 cho thấy tỷ lệ sử dụng corticoid: 61,9%, trong đó 25,6% phụ thuộc corticoid. Đa số (76,9%) bệnh nhân sử dụng liều 5 — 10 mg/ngày; thời gian sử dụng trung bình 3 năm. Các biểu hiện tác dụng không mong muốn của corticoid đa dạng với 15 triệu chứng: bộ mặt Cushing (15,4%); suy thượng thận (7,7%); hạ kali máu (28,2%); tăng đường máu (20,5%), giảm calci máu (15,4%); tăng calci niệu (12,8%); loãng xương nặng (15,4%), tăng huyết áp (12,8%) và một số triệu chứng khác.

Corticoid chỉ được chỉ định trong một sô” trường hợp đặc biệt, chủ yếu ở bệnh nhân viêm nhiều khớp do gút không đáp ứng hoặc chông chỉ định với colchicin và thuốíc chống viêm không steroid. Thường chỉ định cho bệnh nhân cao tuổi và có bệnh lý khác kèm theo. Thận trọng sử dụng ở bệnh nhân đái tháo đường.

Corticoid đường toàn thân: các thuốc như prednison, prednisolon được dùng với liều bắt đầu từ 20 – 50 mg/ngày. Liều dùng 0,5 mg/kg prednison/ngày thứ nhất sau đó giảm liều 5 mg/ngày tỏ ra rất hiệu quả. cần phải điều trị trong 1 — 2 tuần. Sau đó quản lý, theo dõi bệnh nhân để tránh các đợt gút cấp tái phát, nhằm không phải nhắc lại thuốc này.

Corticoid đường tại chỗ: nếu chỉ tổn thương 1-2 khớp, tiêm nội khớp corticoid (methylprednisolon acetate hoặc triamcinolon acetonide) có hiệu quả tốt. Cần loại trừ hoàn toàn viêm khớp nhiễm khuẩn trước khi quyết định tiềm. Trong hầu hết các trường hợp, cần hút dịch khớp để chẩn đoán và nuôi cấy trước khi tiêm khớp nhằm loại trừ viêm khớp do nhiễm khuẩn. Có thể dùng Depomedrol, ống 40 mg/ ống, tiêm 40 mg ở khốp lớn như khớp gối và 5 – 20 mg ở các khớp nhỏ. Tránh dùng corticoid đường tiêm bắp như K-cort vì có thể gây các biến chứng teo cơ hay nhiễm khuẩn rất nặng nề.

ACTH

ACTH được Wolfson dùng đầu tiên vào năm 1949. ACTH cũng có thể điều trị đợt gút cấp có hiệu quả. Liều 40 IU tiêm bắp và nhắc lại sau mỗi 8 hay 24 h cũng có hiệu quả như indometacin (Indocin) 50 mg X 3 lần/ngày. Tuy nhiên, thuốc đòi hỏi phải nhiều lần tiêm nhắc lại và không sử dụng được ở bệnh nhân trước đó dùng corticoid vì sử dụng ACTH chỉ có tác dụng với trục thượng thận không bị ức chế. Thuốíc cũng không có hiệu quả hơn corticoid.

Các thuốc khác

Trong đợt gút cấp, khi bệnh nhân đau nhiều, cần dùng thêm các thuốc giảm đau như paracetamol (Efferalgan™), Eữeralgan — Codein™, Idarac™, Di-antalvic™…

Bệnh nhân cũng cần dùng muối kiềm 1 — 2 gói nabica 5g/ ngày pha nước uống hoặc các nước khoáng có kiềm nhằm kiềm hoá nước tiểu, tránh sỏi tiết niệu.

thuoc dieu tri viem khop

bệnh thấp khớp

thoái hoá cột sống nên ăn gì