Điều trị bệnh viêm cột sống dính khớp

11/10/2016 02:18

Nguyên tắc điều trị: việc thầy thuốc phải nắm vững các thông tin về bệnh nhân, cách thức sống của họ, cũng như các phương thức điều trị, thậm chí điều trị chỉnh hình.

  1. Điểu trị nội khoa

Điều trị nội khoa bao gồm các thuốc chống viêm không steroid (CVKS), thuôc giảm đau, thuốc giãn cơ, thuốc điều trị cơ bản bệnh và các thuốc điều trị tại chỗ. Gần đây, một số’ thuốc kháng TNF-a và bisphosphonat được chỉ định. Ngoài ra, chế độ tập luyện và bảo vệ tư thế các khớp và cột sống hết sức quan trọng.

  • Thuốc chống viêm không steroid: (xem thêm bài thuốc chống viêm không steroid)

Trước hết, không được kết hợp các loại chống viêm không steroid, vì sự kết hợp

các thuốc nhóm này chỉ làm tăng tác dụng phụ, mà không tăng hiệu quả của thuốc. Mọi thuốc chống viêm không steroid có thể chỉ định, song nên dùng nhóm có thời gian bán huỷ kéo dài để tránh đau về ban đêm. Thí dụ Pừoxicam 20 mg/ngày; Tenoxicam 20 mg/ngày… Tránh dùng các phenylbutazon hoặc oxyphnylbutazon do các nguy cơ thiếu máu do suy tuỷ tiềm tàng có thể chết người. Chỉ nên chỉ định nhóm này cho các trường hợp dùng các thuốc chống viêm không steroid khác không kết quả, với liều trung bình 300 mg/24h, nói chung không vượt quá 600 mg/24h.

Thí dụ:

  • Voltaren 75 mg ống: tiêm bắp trong giai đoạn cấp ngày một ống, trong 2 — 3 ngày. Có thể thêm một viên voltaren 50 mg uống hoặc viên đạn đặt hậu môn vào buổi tối. Sau giai đoạn cấp, có thể dùng voltarene uống hoặc viên đạn, liều trung bình 75 mg — 150 mg/ ngày. Dùng liều thấp nhất có tác dụng. Trường hợp đau nhiều về đêm, có thể dùng như sau: 2 viên voltaren 50 mg, chia hai lần sáng chiều và một viên voltaren SR 75 mg trưốc khi đi ngủ.
  • Felden 20 mg/ ống: tiêm bắp ngày một ống trong giai đoạn cấp (3-5 ngày). Tiếp đó uống một viên 20 mg/ ngày.

ĐỐI với người trẻ, đặc biệt trẻ dưới 16 tuổi, không nên sử dụng thuốc chông viêm không steroid loại ức chế chọn lọc cox 2 do có nguy cơ suy tủy.

  • Thuốc giảm đau

Chỉ định thuốc nhóm này tương tự như trong các bệnh khớp khác, dùng paracetamol hoặc paracetamol-codein, liều 2-3 gam/ ngày, chia 2-4 lần, tuỳ theo mức độ đau.

  • Thuốc giãn cơ

Trong bệnh viêm cột sông dính khớp, có hiện tượng co các cơ vân tại cột sông, do đó, thuốc giãn cơ có tác dụng tốt. Đặc biệt hiện nay, có các thuốc giãn cơ có tác dụng trên thần kinh trung ương, không gây ngủ, lại có tính chất giảm đau, nên tăng hiệu quả. Có thể dùng một trong các thuốc sau:

+ Myonal: 50 mg/ viên, 3 viên/ ngày, chia 3 lần, uống sau bữa ăn

+ Coltramyl: 4 mg/ viên, 2 viên/ngày, chia hai lần

+ Mydocalm: 0,05 g/ viên, 4 viên/ ngày, chia hai lần.

  • Các thuốc điều trị cơ hản

Salazosulfapyridin (salazopyrin): thuốc này chỉ có chỉ định với thể có tổn thương khớp ngoại vi (tổn thương khớp ngoại vi đơn thuần hoặc thể hỗn hợp). Liều 2-3 gam/ 24h trong 3 — 6 tháng. Kết quả và dung nạp tốt không chỉ đốì với viêm cột sống dính khớp, mà cả vối các bệnh lý khác của nhóm như viêm khớp phản ứng, và với các biểu hiện ngoài khốp của các bệnh thuộc nhóm bệnh lý cột sống như vẩy nến, viêm màng bồ đào. Một số nghiên cứu đã kết luận rằng, salazosulfapyridin có hiệu quả rõ rệt hơn ở các bệnh nhân có viêm khớp vẩy nến, hoặc viêm cột sống dính khớp thể tổn thương khớp ngoại biên chiếm ưu thế. Ngoài ra, salazosulfapyridin còn có thể phòng ngừa các đợt viêm cấp của viêm màng bồ đào trước kết hợp với các bệnh lý cột sống.

Methotrexat liều nhỏ: (7,5—15 mg/tuần): rất hiệu quả với viêm khớp vẩy nến. Đối với viêm cột sống dính khốp, có chỉ định đối với thể ngoại biên, trong trường hợp không dung nạp với salazopyrin.

  • Thuốc kháng TNF—a

Trong bệnh viêm cột sống dính khớp, vai trò TNF—a đã được khẳng định. Do vậy, hiện nay, các thuốc kháng TNF—a (iníliximab hoặc etanercept) là thuốc thuộc nhóm chê phẩm sinh học, được chỉ định và khẳng định hiệu quả trong điều trị bệnh này. Thuốc được chỉ định đối với cả thể tổn thương khớp ngoại vi và cột sống. Hiệu quả của thuốc: cải thiện nhanh và tổt các triệu chứng ở các bệnh nhân Viêm cột sống dính khớp thể hoạt động. Ngoài hiệu quả giảm đau, chống viêm, thuốc kháng TNF—a cải thiện mật độ xương ở cột sống, cổ xương đùi và mấu chuyển lớn sau 6 tháng điều trị. Việt Nam hiện nay có thuốíc thuộc nhóm này.

  • Bisphosphonat: do các TNF—a (một cytokin trong phản ứng viêm) gây hủy xương nên các thuốc chống hủy xương đã được chỉ định nhằm điều trị hoặc phòng chống loãng xương trong bệnh viêm cột sống dính khớp. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy các bisphosphonat, đặc biệt pamidronat, ngoài tác dụng chống hủy xương, chống loãng xương ở các bệnh nhân viêm cột sống dính khớp còn có tác dụng chống viêm. Thuốc được chỉ định điều trị trong các trường hợp viêm cột sổng dính khớp kháng với thuốíc chông viêm không steroid.
  • Các phương phác điều trị nội khoa khác

Corticoid: tiêm corticoid nội khớp hoặc tại các điểm bám tận của gân. Chỉ định với các vị trí: viêm khớp cùng-chậu, khớp liên mỏm sau, khổp sườn—cột sống, ức-đòn, sườn—ức, khớp ngoại biên, gót.

Nói chung, không có chỉ định corticoid đường toàn thân trong nhóm bệnh này, trừ trường hợp viêm mống mắt có chỉ định corticoid toàn thân (và hậu nhãn cầu). Ngoài ra, trong một số trường hợp đau nhiều, kháng với các điều trị thông thường (thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau, giãn cơ), có thể chỉ định corticoid toàn thân liều thấp, ngắn ngày (20 mg/ngày, trong 1-2 tuần).

Kháng sinh: được chỉ định trong đợt tiến triển của viêm khớp phản ứng, hoặc khi vẫn tồn tại tình trạng nhiễm khuẩn sau khi đã khởi phát viêm khớp. Nếu điều trị kháng sinh ngắn ngày thường không làm thay đổi tiến triển của viêm khớp phản ứng sau nhiễm Chlamydia, ngược lại, điều trị kháng sinh dài ngày có thể làm đợt viêm khớp rút ngắn lại. Đặc biệt, điều trị kháng sinh đối với các nhiễm trùng là nguyên nhân gây bệnh có thể phòng ngừa được các đợt viêm khớp phản ứng. Thường tốt đối với thể khớp ngoại biên.

Có thể chỉ định các thuốc sau

  • Doxycyclin (Vibramycin): 200 mg / ngày, uống một lần, trong một tháng.
  • Hoặc tetracyclin: 1 gam/ ngày, chia hai lần, trong 1 tháng.
  1. Điểu trị ngoại khoa

Chỉ được chỉ định khi các phương pháp bảo tồn khác không kết quả.

Khớp nhân tạo: đối với khớp háng, việc thay khớp giả toàn phần mang lại kết quả tốt, song nguy cơ tuột phần cố định chỏm do hoạt động sinh lý mạnh ở người trẻ tuổi. Tuy vậy, hiện nay, chỉ định thay khớp nhân tạo rộng rãi hơn, nhằm đảm bảo chức năng vận động cho bệnh nhân.

  1. Các phương pháp không dùng thuốc

Cách thức sống của bệnh nhân viêm cột sống dính khớp rất quan trọng, do đó cần khuyến cáo bệnh nhân thay đổi lối sống của mình để tránh các hậu quả của biến dạng khớp.

  • Hoạt động thể lực: trong giai đoạn tiến triển của bệnh: bệnh nhân phải nghỉ ngơi, ngừng các hoạt động thể thao và/ hoặc thể lực nặng trong giai đoạn này. Điều hoà giữa hoạt động và nghỉ ngơi phụ thuộc vào từng bệnh nhân. Song nên tránh nằm dài trên giường (gây loãng xương). Thường ngủ 7 — 8 giờ ban đêm là đủ, nên có thòi gian nghỉ ngơi ngắn vào ban ngày giúp cho bệnh nhân đỡ mệt. Tuỳ theo mức độ của bệnh, song cần phải cố gắng duy trì các bài tập thể dục hàng ngày nhất là việc thực hiện các động tác để cột sống càng vận động càng tốt. Hàng năm phải được khám lại để phát hiện các tư thế xấu.
  • Chế độ thể dục thể thao: một số môn được phép: bơi, bắn cung, các trò chơi có dùng vợt (cầu lông, tennis), nhảy; trong khi các môn khác được khuyên nên tránh như: bóng chày, gôn, chạy. Bơi lội kích thích vận động của lồng ngực, cột sông, vai và háng. Các cú đạp có nước đõ đặc biệt tốt với vận động khớp háng. Chính vì vậy mà bơi lội là môn thể thao rất tốt cho các bệnh nhân viêm cột sống dính khớp. Trong trường hợp khớp vai bị hạn chế vận động, cần tư vấn cho bệnh nhân tránh các hoạt động cần phải đưa tay mạnh ra phía sau. Các động tác còn lại khác của khớp vai có thể cho phép.

cách trị bệnh thoái hóa cột sống

thoái hóa cột sống lưng

thoai hoa dot song co nen an gi