Điều trị bệnh still người lớn

11/10/2016 01:24
  1. Điều trị

Điều trị bệnh Still người lớn cho đến nay vẫn còn nhiều khó khăn nhất là đối với những trường hợp có tổn thương khớp mạn tính hoặc có tổn thương nội tạng nặng. Kinh nghiệm điều trị đóng một vai trò quan trọng trong kiểm soát bệnh và chế độ điều trị có thể được thay đổi tùy từng người bệnh. Có nhiều nhóm thuốc khác nhau có thể được sử dụng để điều trị bệnh Still người lớn. Do quá trình chẩn đoán bệnh Still người lớn đôi khi đòi hỏi cần có thời gian và có những khó khăn nên việc điều trị có thể được áp dụng làm hai giai đoạn, trưốc và sau chẩn đoán xác định. ơ giai đoạn đầu chủ yếu các thuốc được dùng để điều trị triệu chứng, gồm có hai nhóm thuốc giảm đau và chông viêm không steroid.

Thuổíc giảm đau đơn thuần được dùng để kiểm soát các triệu chứng đau cơ, khớp và sốt. Nếu các triệu chứng ở mức độ nhẹ và vừa có thể chỉ dùng paracetamol. Vối các trường hợp có biểu hiện nặng hơn có thể dùng paracetamol kết hợp codein hoặc dextropropoxyphen. Các dạng kết hợp paracetamol với opiat yếu có hiệu quả tốt hơn.

Thuốc chông viêm không steroid được chỉ định điều trị các triệu chứng viêm của bệnh bao gồm các tổn thương ỏ khớp, cơ, da. Tất cả các nhóm thuốc chổng viêm không steroid đều có tác dụng với bệnh Still nên không có lựa chọn riêng biệt nào. Trong một sô” trường hợp, việc sử dụng thuốc giảm đau đơn thuần và thuôc chống viêm không steroid cũng đủ làm giảm các triệu chứng bệnh.

Với những trường hợp có biểu hiện nặng và khi đã xác định rõ chẩn đoán, các thuôc có tác dụng mạnh hơn được dùng cho người bệnh. Vì các thuốc này có thể gây nhiều tác dụng phụ nên không nên sử dụng cho người bệnh một khi chưa có chấn đoán rõ ràng.

Corticosteroid: có thể sử dụng bằng đường uống hoặc tiêm. Liều corticosteroid (prednisolon) bắt đầu thường phải dùng ở liều trung bình hoặc cao từ 0,5 – 1 mg/kg/ngày hoặc 40 — 60 mg/ngày. Prednisolon liều thấp dưối 20 mg/ngày hoặc dùng cách ngày từ đầu thường không có đáp ứng tốt. Có thể giảm liều corticosteroid dần sau vài tháng và duy trì với liều thấp <10 mg prednisolon/ngày) trong vài năm. Chú ý khi điều trị corticosteroid cần cho người bệnh chế độ ăn nhạt, bổ sung vitamin D với liều 400 – 800 Ul/ngày và calci với liều lg – l,5g/ngày. Vối liều thấp corticosteroid có thể không cần áp dụng chê độ ăn nhạt, cần theo dõi các biến chứng của thuốc như tăng huyết áp, tăng đường máu… Nếu sau 3-6 tháng điều trị mà không cắt được corticosteroid thì cần cho các thuốic tác dụng chậm như methotrexat, azathioprin, hydroxychloroquin, cyclosporin A.

Methotrexat: liều thấp 7,5 — 20 mg/ tuần, có thể uống, tiêm bắp hoặc tiêm dưới da vào một ngày cô định của tuần. Thuốc bắt đầu có tác dụng sau 1 — 2 tháng điều trị. Trong quá trình điều trị cần theo dõi sô” lượng bạch cầu, chức năng gan, thận, các triệu chứng ở phổi. Có thể phôi hợp với các thuốc điều trị truyền thông và các thuốc tác dụng chậm khác, cần bổ sung acid íolic với liều tương đương với methotrexat. Với những trường hợp muôn có thai phải ngừng thuốc từ 3 — 6 tháng.

Azathioprin: liều bắt đầu từ 1 mg/kg/ngày, có thể tăng liều thêm 0,5 mg/kg/ngày tới liều 2,5 mg/kg/ngày trong thời gian vài tuần. Không dùng thuốc cho phụ nữ có thai hoặc có ý định có thai, những người có tiền sử dị ứng với thuốc hoặc dị ứng với 6—MP, suy thận nặng. Trong quá trình điều trị cần theo dõi tế bào máu ngoại vi ít nhất một tháng một lần, chức năng gan, chức năng thận và các triệu chứng nhiễm trùng.

Hydrochloroquin (Plaquenil® 200 mg, Quinacrin Hydrochlorid-Atabrine® lOOmg): liều dùng từ 200 – 600 mg/ngày, thường bắt đầu vối liều 200mg/ngày. Không dùng cho người bệnh có thai, người có suy giảm G6PD (glucose-6 phosphate dehydrogenase) hoặc có tổn thương gan. cần theo dõi thị lực và kiểm tra đáy mắt ít nhất 6 tháng một lần.

Cyclosporin A (Neoral®, Sandimmume®): liều từ 2,5 – 5 mg/kg/ngày, thường bắt đầu với liều 2,5 mg/kg/ngày, chia hai lần, có thể tăng 0,5 — 1 mg/kg/ngày trong vài tháng. Không dùng cho các trường hợp có tiền sử bệnh thận từ trước. Nếu chức năng thận giảm trong khi điều trị thì giảm liều hoặc ngừng thuốc.

Thalidomid: liều dùng từ 100 — 200 mg/ngày. Không dùng thuốc cho người có tiền sử dị ứng với thuốc, phụ nữ có thai và cho con bú. Tuyệt đô”i không được dùng cho phụ nữ trong thời gian ít nhất 4 tuần trước khi có thai vì khả năng gây dị dạng thai nhi cao dù chỉ dùng một liều duy nhất.

Một sô” thuốc tác dụng chậm khác như sulfasalazin, muối vàng, penicillamin cũng được áp dụng điều trị bệnh Still người lớn tuy nhiên kết quả đáp ứng kém hoặc không rõ ràng nên ít được sử dụng. Việc phối hợp thuốc giảm đau, chống viêm không steroid, corticosteroid và các thuốc tác dụng chậm với nhau đem lại hiệu quả kiểm soát bệnh tốt hơn so với việc dùng đơn độc.

Immunoglobulin: với những trường hợp bệnh tái phát và không đáp ứng với các thuốc điều trị khác có thể sử dụng gamaglobulin đường truyền tĩnh mạch với liều từ 0,4 – 2 g/kg/ngày trong 2 — 5 ngày. Một số nghiên cứu cho thấy truyền gamaglobulin có tỷ lệ đáp ứng 86% và thời gian ổn định bệnh kéo dài từ 2 — 53 tháng.

Các thuốc tác dụng theo cơ chế sinh học: chỉ định trong những trường hợp không đáp ứng với các thuốc điều trị truyền thông như thuốc chông viêm không steroid và corticosteroid. Các chế phẩm sinh học có thể được phối hợp với các thuốc khác trong liệu trình điều trị và cho kết quả tương đôi tốt. Các thuốc thuộc nhóm này được chỉ định điều trị bệnh Still người lớn bao gồm nhóm ức chế yếu tô” hoại tử u (anti—TNF-oc), ức chế interleukin 1 (IL-1 blockade), ức chế interleukin 6 (anti-IL-6), ức chế tế bào lympho B (anti-CD20).

ức chế yếu tô” hoại tử u (anti—TNF— a): chỉ định với những trường hợp không đáp ứng với điều trị bằng corticosteroid và methotrexate. Iníliximab (Remicade®) dùng đường truyền tĩnh mạch với liều 3 mg/kg, vào các tuần 0, 2, 6 và sau đó 8 tuần một lần. Etanercept dùng đường tiêm dưới da với liều 25 mg hai lần/tuần, có thể tăng lên 3 lần/tuần ở tuần thứ 8 nếu không đạt hiệu quả mong muốn.

ức chê” IL— 1: Anakira dùng đường tiêm dưói da với liều 100 mg/ngày. Đây là thuốc tỏ ra khá hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh ở những trường hợp đã thất bại với các thuốc điều trị truyền thống, các thuốíc tác dụng chậm và ngay cả thuốc ức chế yếu tố’ hoại tử u.

Thuốc ức chế IL—6 (tocilizumab) và ức chế tế bào lympho B (rituximab) cũng được sử dụng để điều trị bệnh Still người lớn với những kết quả ban đầu tương đối khả quan. Tuy nhiên, các chế phẩm này còn đang trong giai đoạn thử nghiệm và cần có thêm thòi gian để thẩm định.

  1. Theo dõi và tiên lượng bệnh

Phần lổn các trường hợp người bệnh chỉ có tổn thương nội tạng đơn thuần, có thời gian tiến triển ngắn và có thể khỏi trong vòng một năm. Tuy nhiên, khả năng tái phát với các biểu hiện nặng của bệnh có thể đe dọa tính mạng người bệnh như viêm cơ tim, ép tim, suy gan, viêm phổi, đông máu nội mạc rải rác cũng không được loại trừ.

Với các thể bệnh tái phát, đặc biệt là thể mạn tính có tổn thương khớp thì tiên lượng bệnh phụ thuộc vào phạm vi và mức độ của các khớp tổn thương. Tổn thương nhiều khớp, nhất là khớp háng thường để lại di chứng và có tiên lượng không tốt sau một thòi gian dài điều trị. Các trường hợp có HLA DR4 dương tính thường có tiên lượng kém hơn những người bệnh khác. Bệnh có thể tiến triển đến giai đoạn cuối sau 4 — 5 năm.

Trong quá trình theo dõi và điều trị bệnh, cần luôn theo dõi sát các biến chứng của bệnh và thuốc điều trị.

đau nhức xương khớp dùng thuốc gì

đau thắt lưng ở nam giới

bệnh đau cột sống thắt lưng