Viêm khớp dạng thấp

11/10/2016 09:04

Đại cương về bệnh viêm khớp dạng thấp

Nghiên cứu đặc điểm một số bộ xương của người ở Bắc Mỹ, các nhà khoa học đã cho rằng viêm khớp dạng thấp có thể tồn tại ít nhất cách đây 3000 năm. Năm 1819 Brondie đã mô tả bệnh viêm khớp dạng thấp với đặc điểm tiến triển chậm, ảnh hưởng tới nhiều khớp, các gân và dây chằng. Bệnh được Charcot phân lập khỏi một số bệnh khớp khác năm 1853. Thuật ngữ viêm khớp dạng thấp do Garrod đề nghị năm 1858. Đặc điểm chính của bệnh là tình trạng viêm mạn tính của các khớp được đặc trưng bởi viêm nhiều khớp đối xứng, thường kèm theo dấu hiệu cứng khớp buổi sáng và sự có mặt của yếu tố dạng thấp trong huyết thanh. Waaler (1940) và Rose (1947) phát hiện ra yếu tố’ dạng thấp bằng phưản ứng ngừng kết hồng cầu cừu. Viêm khớp dạng thấp là một trong các bệnh viêm khốp mạn tính thường gặp nhất. Các biểu hiện ngoài khớp cũng rất phong phú: hạt dưới da, viêm phổi – màng phổi, viêm mạch, tổn thương tim… Bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, tuổi trung niên.
Mục đích điều trị nhằm khống chế quá trình viêm khớp để bệnh nhân có thể có cuộc sống bình thường. Ngoài các thuốc chống viêm (sterocorticoid hoặc thuốc chống viêm không steroid) nhóm thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm (Slow—Acting Antirheumatic Drugs (SAARDs) hay còn gọi là thuốc chông thấp khớp làm thay đổi bệnh (Disease—modiíying antirheumatic drugs (DMARDs) có vai trò quan trọng trong việc ổn định bệnh, tránh hủy khớp. Phục hồi chức năng, thay khớp nhân tạo, giáo dục bệnh nhân hoà hợp với cộng đồng đóng vai trò quan trọng.

Dịch tễ học

Bệnh viêm khớp dạng thấp gặp ở mọi quốc gia trên thế giới, chiếm khoảng 1% dân số. Tỷ lệ bệnh là khoảng 0,5 — 1% dân số một số nưốc châu Âu và khoảng 0,17 — 0,3% ở các nước châu Á. Tỷ lệ này tại miền Bắc Việt Nam, theo thống kê năm 2000 là 0,28%. Bệnh thường gặp ở nữ giới vối tỷ lệ nữ/nam thay đổi từ 2,5 đến 1. Theo nghiên cứu về tình hình bệnh tật tại khoa Cơ xương khốp Bệnh viện
Bạch Mai từ 1991 – 2000, bệnh viêm khớp dạng thấp chiếm tỷ lệ 21,94% trong đó nữ chiếm 92,3%, lứa tuổi chiếm đa số là từ 36 — 65 (72,6%). Bệnh có tính chất gia đình trong một số trường hợp.

bệnh khớp và cách điều trị

Cay thuoc nam chua benh khop

bệnh khớp kiêng ăn gì