Đặc điểm lâm sàng của thoát vị đĩa đệm nhiều tầng

25/11/2016 02:40

TVĐĐ nhiều tầng là thoát vị nhiều đĩa đệm trên một bệnh nhân. Theo Hồ Hữu Lương và cs (2002), TVĐĐ nhiều tầng chiếm 45,95% TVĐĐ cột sống cổ, trong đó TVĐĐ (Cm – CIV, CIV – Cv: 8,11%, CVI – cv, Cy – CVI, 10,81%, cm – CIV và Cyj – cỳn: 2,70%, Cy – Cy! và CVI – Cy„: 2,70%). TVĐĐ ba tầng là 18,93% (Cra – CIV, CXV – Cy và Cy – CVI: 16,23% CXy – Cy, Cy – Cyj, CVI – CVII: 2,7%) TVĐĐ bốn tầng (Cm – CIV, CIV – Cy, cv – CVJ, Cyj – Cyn) là 2,7% (bảng 5.1)

  • Mức độ thoát vị ở các tầng không đều nhau, tầng thoát vị nặng nhất thường ở đĩa đệm CIV – Cy hoac Cy – Oyj.
  • Các triệu chứng lâm sàng của thoát vị nhiều tầng đa dạng hơn TVĐĐ một tầng. Biểu hiện TVĐĐ nhiều tầng bằng hội chứng nhiều rễ (multiradicular syndrome) và hay có hội chứng động mạch đốt sống (đau đầu vùng chẩm, rung giật nhãn cầu ngang) (bệnh án 4.3).
  • Trường hợp TVĐĐ cột sống cổ xuất hiện ngay sau chấn thương có mất ý thức thường là TVĐĐ nhiều tầng (bệnh án 6.70.

BỆNH ÁN 4.2: Thoát vị đĩa đệm nhiều tầng cạnh trung tâm phải

Bệnh nhân Lê Xuân T. 48 tuổi (bệnh án sô” 681/B9/103). Bại tứ chi tăng dần (bên phải nặng hơn bên trái), có tê bì tay phải nhất là ngón cái, không có tiền sử chấn thương, không có triệu chứng cột sống cổ, không rối loạn cơ vòng, điều trị nội khoa không đỡ. Hình ảnh cộng hưởng từ: TVĐĐ cột sống cổ CIV – cv và Cy – CVI cạnh trung tâm phải, đè ép rễ thần kinh bên phải có phù tuỷ nhẹ và trượt nhẹ thân đốt sống Cy ra sau.

thuốc chữa thoát vị đĩa đệm

thoái hóa khớp

bài tập thể dục chữa thoái hóa đốt sống lưng

Điều trị phẫu thuật lấy đĩa đệm CIV – Cy và Cy – CyỊ. Đĩa đệm Cy – CyỊ bị xơ hoá nhiều hơn đĩa đệm Cjv – Cy.

TVĐĐ C|V – cv, Cy, CV| cạnh trung tâm phải, phù tuỷ nhẹ ngang mức đĩa đệm bị thoát vị của bệnh nhân Lê Xuân T.

Bệnh nhân Phạm Thị s. 42 tuổi, xóm 7, xã A.B, huyện K.X., tỉnh T.B. bị tai nạn xe máy, chấn thương sọ não 1998, bất tỉnh 10 phút ngay sau chấn thương. Ngày 11 – 2 – 2002 khi bệnh nhân đang đi thì xuất hiện cảm giác tê bì vai trái lan xuống thắt lưng rồi xuống chân trái, đồng thời yếu tay chân trái nhưng vẫn đi lại được. Ngày 23 – 2 – 2002 tê vai phải và yếu tay chân phải. Từ 11-3-2002 bệnh nhân bị đau đầu vùng gáy và chẩm bên trái. Từ 5-4-2002 bệnh nhân đau đầu vùng gáy và chẩm phải không nôn. Khám thần kinh ngày 9-4-2002 bại tứ chi kiểu trung ương (bên trái nặng hơn bên phải) đi bộ khó khăn, tăng phản xạ gân xương tứ chi, phản xạ Hoffmann dương tính hai bên, có rung giật nhãn cầu ngang không liên tục (không điển hình), không liệt mặt. Nghiệm pháp kéo giãn cột sống cổ dương tính, có dấu hiệu Lhermitte (khi gấp cổ hơi mạnh thì bệnh nhân có cảm giác như điện giật từ đỉnh đầu và vùng gáy lan xuống lưng, phía sau chân và bàn chân, đồng thòi toàn thân “bủn rủn”). Bệnh nhân không có hội chứng cột sông cổ, không có hội chứng rễ cổ, không bị rối loạn cơ vòng.

Chụp MRI: có hình ảnh TVĐĐ nhiều tầng, chèn ép tuỷ cổ, gây phù tuỷ ngang mức đĩa đệm Cjy – cv. Thoát vị ở đĩa đệm cm – Cjvthể trung tâm. Thoát vị nặng nhất ở đĩa đệm Cịv – Cy thể cạnh trung tâm trái Thoát vị ở đĩa đệm Cy – Cyj thể trung tâm (ảnh 4.6).

Bệnh nhân được điều trị bảo tồn TVĐĐ từ 10 -4- 2002, kết quả tốt. Sau 17 ngày điều trị bệnh nhân đã đi lại bình thường hết dấu hiệu Lhermitte, hết đau đầu, hết rung giật nhãn cầu.

Trong trường hợp này, vấn đề chỉ định chụp cộng hưởng từ cột sống cổ hay sọ não đã phải cân nhắc kỹ vì bệnh nhân có đau đầu, có rung giật nhãn cầu, có bại tứ chi kiểu trung ương. Nhưng căn cứ vào bệnh nhân có dấu hiệu Lhermitte, nghiệm pháp kéo giãn cột sông cổ dương tính và nếu bại tứ chi do thương tổn não thường bệnh cảnh lâm sàng nặng hơn nên chúng tôi đã nghĩ đến do TVĐĐ cột sống cổ và chỉ định chụp MRI cột sống cổ là chính xác.

Trần T.M.T.47 tuổi, nghề nghiệp BS-GV, năm 2003-2004 có 3 lần bị đau mỏi cột sống cổ khoảng một tuần thì khỏi. Ngày 7-12-2004 bệnh nhân bị đau cột sống cổ và đã được xoa bóp, bấm huyệt. Ngày 8-12- 2004 đau tăng lên, đau từ cột sống cổ lan xuống phía sau vai trái, phía sau cánh tay, mặt sau cang tay, ngón tay 1,2,3. Đau như bị ép chặt, như “rụng” cánh tay. Có tư thế chống đau: vai trái nâng cao hơn vai phải; khi nằm nghiêng, đầu phải kê cao, khi ngồi phải dùng hai tay giữ đầu cho đỡ đau. Đau thường tăng lên khi vận động cột sống cổ, khi đang nằm ngồi dậy, khi ngửa cổ ra sau. Ngày 10-12-2004 được chụp cộng hưởng từ, có hình ảnh TVĐĐ Cv – Cvi và Cvi- Cvii, phù tủy từ ngang đốt sống Ciii và Cvii, làm tăng tín hiệu trên ảnh T2.