Đặc điểm các thể bệnh trong viêm khớp tự phát thiếu niên

11/10/2016 09:48

Đặc điểm chung của viêm khớp ở trẻ em

Viêm khớp ở trẻ em có những đặc điểm khác biệt vối viêm khớp ở người lớn.

Các đặc điểm lâm sàng

Triệu chứng tại khớp: sưng đau và cứng khớp là những triệu chứng rất phổ biên của trẻ bị viêm khớp tự phát thiếu niên, nhưng có thể trẻ không nhận ra, không nói là chúng bị đau khớp. Tình trạng sưng và cứng khớp thường biểu hiện rõ về buổi sáng hoặc sau giấc ngủ trưa.

Giảm vận động vì sưng đau và cứng khớp, giảm biên độ hoạt động của khớp do đó trẻ thường yếu và giảm hoạt động sinh lý bình thường của khớp.

Đi lại khập khiễng gặp trong những trường hợp viêm khốp mức độ nặng nhưng cần loại trừ nguyên nhân chấn thương. Biến dạng khớp thường không đối xứng và gây ra biến dạng chi.

Triệu chứng toàn thân: sút cân là triệu chứng phổ biến gặp ở trẻ mắc bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên là do trẻ ốm mệt không ăn được hoặc do trẻ bị tiêu chảy.

Chậm phát triền: trẻ bị viêm khớp tự phát thiếu niên thường phát triển chậm hơn trẻ khác. Đặc biệt ở chi có khớp viêm thì do quá trình viêm mạn tính hoặc do điều trị bằng corticoid có sự rối loạn phát triển dẫn đến một tay hoặc một chân dài hoặc ngắn hơn bên đối diện.

Các biến chứng: biến chứng mắt thường gặp nhất, là hậu quả của viêm màng bồ đào mạn tính âm thầm. Viêm màng bồ đào mạn tính thường không triệu chứng, biểu hiện ở cả hai mắt. Thường gặp ở các thiếu nữ viêm vài khớp có kháng thể kháng nhân dương tính, và một sô” ít các trưòng hợp viêm nhiều khớp. Thể hệ thống hiếm gặp viêm màng bồ đào. Viêm màng bồ đào trước cấp tính gặp ở các trẻ trai (trước hoặc ỏ tuổi trưởng thành), thường có kháng thể kháng nhân âm tính. Ngoài ra, biến chứng do thuốc cũng rất phổ biến. Thường gặp nhất là biến chứng do dùng các thuốc chống viêm (không steroid và steroid) đối với quá trình phát triển của trẻ.

Các đặc điểm xét nghiệm

Xét nghiệm biểu hiện phản ứng viêm

+ Tốc độ máu lắng tăng.

+ Protein c phản ứng (CRP-C reactive protein) tăng.

+ Điện di protein: albumin giảm, globulin tăng.

—Các xét nghiệm miễn dịch trong huyết thanh.

+ Yếu tố dạng thấp dương tính.

+ Kháng thể kháng nhân ANA, kháng AKA, APF, CCP dương tính.

Các xét nghiệm dịch khớp.

Về đại thể: dịch khớp tăng khối lượng, thưòng màu vàng nhạt, giảm độ nhớt, lượng mucin giảm rõ rệt.

Về tế bào học: số lượng bạch cầu trong dịch khớp tăng cao, chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính, không có tế bào thoái hoá.

Về miễn dịch học: có thể thấy tê” bào hình nho (Ragocytes) ở hơn 10% trường hợp. Đây được coi là những bằng chứng thực bào các phức hợp miễn dịch tại màng hoạt dịch. Yếu tô” dạng thấp trong dịch khớp dương tính với tỷ lệ cao và sớm hơn trong huyết thanh.

Hình ảnh Xquang quy ước: với mục đích chẩn đoán xác định, chụp Xquang khớp chỉ giúp loại trừ nguyên nhân chấn thương, hoặc u xương. Những thay đổi sớm trên Xquang ở bệnh nhân viêm khớp tự phát thiếu niên bao gồm sưng nề mô mềm quanh khớp (phổ biến nhất trong thể viêm ít khớp) và sự mở rộng khe khớp do dịch trong ổ khớp tăng lên, sự phì đại của màng hoạt dịch, chứng loãng xương ở vùng khớp tổn thương, xương phát triển không bình thường trong bệnh viêm nhiều khố

Giai đoạn muộn hơn có hình ảnh hẹp khe khớp, bào mòn khớp, sai khớp nhẹ và cứng khớp. Hình ảnh bào mòn khớp thường không được phát hiện ra trong hai năm đầu của bệnh và thường được phát hiện trong thể viêm nhiều khốp và viêm khớp hệ thống. Có thể trẻ em có sụn khớp dày hơn, quá trình sửa chữa những tổn thương viêm tốt hơn cùng với sự phát triển của một trẻ đang lớn đóng góp vai trò gây hủy khốp ít hơn so với người lớn. Sự cứng khớp ở trẻ em xảy ra sớm hơn người lớn và điển hình ở khớp cổ tay, cổ chân, và khớp cột sống.

Siêu âm: là phương pháp tốt nhất để phát hiện dịch trong khớp và sự phì đại của màng hoạt dịch. Các tác giả khuyên đặc biệt trong tổn thương khớp háng nên siêu âm để phát hiện từ giai đoạn đầu của bệnh.

Cộng hưởng từ (MRI): có vai trò quan trọng để phát hiện những tổn thương ở giai đoạn sớm khi triệu chứng lâm sàng còn nghèo nàn, Xquang chưa phát hiện được tổn thương. Chụp cộng hưởng từ cho biết hình ảnh của sụn khớp, hiện tượng phù tủy xương, sự phì đại của màng hoạt dịch, sự tưới máu của vỏ xương, tủy xương, cấu trúc các xơ sụn đặc biệt có ý nghĩa phát hiện sớm sự bào mòn nhỏ ở khớp. Ngoài ra, các thông tin cung cấp bởi cộng hưởng từ khớp tổn thương cho phép đánh giá đáp ứng điều trị tại chỗ (đặc biệt với corticoid) và phát hiện những biến chứng.

Các thể bệnh trong viêm khớp tư phát thiếu niên

Thể hệ thống

Tuổi khởi phát thường gặp nhất là 2 tuổi, tỷ lệ trẻ trai và gái như nhau. Sốt kéo dài ít nhất 2 tuần, trong đó có 3 ngày liên tục. Kèm theo có ban hình cánh bướm, tổn thương nội tạng (gan lách hạch to, viêm màng ngoài tim hoặc viêm các thanh mạc khác) và viêm khớp (một hoặc vài khớp) thành đợt, ít nhất tồn tại trong 2 tuần, sau đó thường biến mất. Xét nghiệm có hội chứng viêm (tốc độ máu lắng cao, ferritin máu cao) và đáp ứng với điều trị. Yếu tố dạng thấp—RF, kháng thể kháng nhân thường âm tính. Một số trẻ có biểu hiện hệ thống vài tháng tới vài năm, một số khác luôn luôn biểu hiện hệ thống. Các thể biểu hiện vài khớp lành tính hơn biểu hiện nhiều khớp.

  • Thể viêm nhiều khớp RF âm tính hoặc dương tính
  • Loại RF dương tính: (ít nhất hai lần xét nghiệm trong vòng 3 tháng cho kết quả dương tính). Thường gặp ỏ các thiếu nữ vối thể viêm khớp dạng thấp điển hình như ở người lớn. Một sô’ trường hợp tiến triển nặng, gặp ở các khớp nhỏ với hình bào mòn. Thể nhiều khớp thường tiên lượng nặng.
  • Loại RF âm tính: có ít nhất 5 khớp tổn thương trong vòng 6 tháng đầu. Có thể gặp ở mọi tuổi, song có hai lứa tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là 2 tuổi và trước khi trưởng thành; nam giới chiếm đa sô’. Viêm màng bồ đào mạn tính chiếm 5 — 10% sô’ trẻ này. Kháng thể kháng nhân thường âm tính.
  • Thể viêm một vài khớp

Đặc trưng bởi khỏi phát vối tổn thương dưới 4 khớp. Thể điển hình thường xuất hiện ở các trẻ gái từ 2 — 5 tuổi (3 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất). Kháng thể kháng nhân có thể âm tính hoặc dương tính. Loại kháng thể kháng nhân dương tính thường có nguy cơ viêm màng bồ đào mạn tính cao (10 — 20%). Tổn thương khớp điển hình nhất là khớp gối. Thể này có hai loại: loại cô’ định — chỉ tổn thương ở dưới 4 khớp; và loại lan toả – trong vòng 6 tháng đầu, xuất hiện thêm tổn thương, trên 4 khớp. Loại tổn thương lan toả có tiên lượng như thể nhiều khóp. Loại vài khớp tiên lượng tốt, thường thuyên giảm sau 4-5 năm.

Các trẻ có tiền sử gia đình bị vẩy nến, yếu tô’ dạng thấp —RF dương tính hoặc viêm các điểm bám tận được xếp loại nhóm bệnh này.

Viêm khớp có viêm điểm bán tận

Thưồng gặp ở trẻ trai 6 tuổi, viêm khớp không đô’i xứng ở chi dưới có kèm viêm điểm bám tận của các gân, nơi bám vào xương. Tỷ lệ HLA—B27 cao, có viêm màng bồ đào mạn tính. Tiến triển giông viêm cột sông dính khớp ở người lốn.

Viêm khớp vẩy nến ở thiếu niên

Được định nghĩa là viêm khớp mạn tính xuất hiện trước 16 tuổi, có trước hoặc kèm theo hoặc theo sau vẩy nến. Chẩn đoán dựa trên viêm khớp và tổn thương vẩy nến điển hình hoặc 2 trong 3 tiêu chuẩn sau: vẩy nến móng, ngón chi hình khúc dồi và tiền sử vẩy nến ở gia đình (thế hệ đầu tiên). Lúc đầu, tổn thương khốp không đôi xứng (đôi với cả khớp nhỏ hoặc khớp lớn). Đa sô’ các trường hợp, với thòi gian, sẽ tiến triển thành tổn thương nhiều khớp. Viêm khốp vẩy nến nói chung hiếm gặp, tỷ lệ nữ chiếm ưu thế. Yếu tô’ dạng thấp -RF âm tính. Một sô’ trường hợp có RF dương tính, tổn thương nhiều khớp có thể tương tự như viêm khớp dạng thấp ở người lớn (một sô’ tác giả coi RF dương tính là tiêu chuẩn loại trừ viêm khớp vẩy nến). Một sô’ trưòng hợp có HLA—B27 tiến triển thành viêm cột sống dính khớp.

chua benh khop bang thuoc nam

bệnh khớp nên ăn gì

thuoc nam tri gai cot song