Cơ xương khớp ở bệnh nhân bị nhiễm HIV

12/10/2016 10:46
  1. Đại cương

Cùng với đại dịch AIDS phát triển trên thế giới, tỷ lệ ngày càng tăng của bệnh AIDS, Việt Nam chúng ta cũng không là ngoại lệ. Ngoài các biểu hiện chung mà nhiều người đã quen thuộc như gầy sút, nhiễm trùng ngoài da, thì các biểu hiện xương khốp cũng khá thường gặp. Các biểu hiện cơ xương khớp kết hợp ở những bệnh nhân bị nhiễm HIV đặt ra nhiều khó khăn trong chẩn đoán phân biệt nguyên nhân: là triệu chứng của nhiễm virus HIV hay là bệnh riêng biệt hoặc là các tác dụng không mong muôn của các thuốc chống virus.

Các biểu hiện cơ xương khốp thường xuất hiện ở nhóm bệnh nhân nhiễm HIV khá đa dạng. Tổn thương khớp bao gồm: đau khớp (45%), hội chứng Reiter, viêm khớp vẩy nến, bệnh lý cột sống không xác định, viêm khốp kết hợp ở bệnh nhân nhiễm HIV, hội chứng đau khớp. Tổn thương cơ thường gặp là đau cơ, viêm đa cơ, bệnh lý về cơ do thuốc điều trị (ví dụ như azidothymidin). Ngoài ra, còn gặp hội chứng thâm nhiễm bạch cầu lympho lan tỏa (5%), viêm mạch, nhiễm khuẩn cơ, xương, khớp; hoại tử xương, viêm gân, viêm túi thanh mạc, gút… ở các bệnh nhân này, các biểu hiện trên có khi chỉ là triệu chứng đơn độc (đau cơ, đau xương, đau khớp…), có lúc tập hợp thành hội chứng (tổn thương các tuyến nước bọt, tuyến lệ…), song có khi đó là một bệnh khớp điển hình (viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp phản ứng, viêm khớp vẩy nến) và các bệnh tự miễn dịch khác (lupus ban đỏ hệ thống). Trong số các biểu hiện trên, có những biểu hiện bệnh lý gặp cả ỏ người không nhiễm virus, song có những triệu chứng chỉ gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV, đó là viêm khốp kết hợp ở bệnh nhân nhiễm HIV và hội chứng thâm nhiễm bạch cầu lympho lan tỏa. Một số nghiên cứu tại Mỹ năm 2006 cho thấy các biểu hiện cơ xương khốp ở các bệnh nhân nhiễm HIV khá cao, mặc dù đang được điều trị: 41% có nhiễm khuẩn các loại (bao gồm viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm mô tế bào, cốt tủy viêm, viêm đĩa đệm đốt sống và viêm đa cơ). Đau xơ cơ (íìbromyalgia) chiếm 17%. Ngoài ra có viêm khớp các loại (viêm nhiều khớp, vài khớp), thấp khớp vẩy nến, hội chứng đưòng hầm, viêm gân, u lymphoma non—Hodgkin gây tổn thương xương đa ổ, sarcoma Kaposis tại xương; hoại tử vô mạch đa xương…

Đặc điểm chung của những triệu chứng xựơng khớp ở những bệnh nhân bị nhiễm HIV như sau: đa số các bệnh nhân thường phàn nàn là đau cạnh khớp, hơn là sưng đau khớp. Họ khó xác định chính xác điểm đau tại xương, cơ hay khốp, nhất là ở giai đoạn đầu. Đôi khi, phải chờ đến khi các triệu chứng trở nên rõ ràng mối chẩn đoán được.

Có khi ỏ bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng giông như nhiễm trùng hoặc ung thư (sốt, gầy sút…)- Vối các triệu chứng này rất khó phân biệt được nguyên nhân là do suy giảm miễn dịch của HIV hay nhiễm trùng kết hợp hoặc ung thư mới xuất hiện.

Nhóm người này thường có tỷ lệ tự kháng thể cao, do nhiễm trùng mạn tính, do rối loạn điều ho à miễn dịch và do các thuốc sử dụng (đặc biệt là AZT— azidothymidin). Chính vì vậy, các trưồng hợp được tìm thấy kháng thể kháng nhân cũng không chắc đó là bệnh lupus ban đỏ hệ thống. Chẩn đoán cuối cùng phải do bác sĩ chuyên khoa quyết định.

Phần dưới đây trình bày một sô” biểu hiện cơ xương khớp thường gặp nhất ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.

2. Cơ chế bệnh sinh

Vai trò trực tiếp của virus đối với các biểu hiện cơ xương khớp.

Trong sô” các biểu hiện cơ xương khớp đa dạng, có những biểu hiện bệnh lý gặp cả ở người không nhiễm virus (hội chứng Reiter, viêm đa cơ…), song có những triệu chứng chỉ gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV (viêm khớp kết hợp ở bệnh nhân nhiễm HIV và hội chứng thâm nhiễm bạch cầu lympho lan tỏa). Vai trò trực tiếp của virus đôi vối các biểu hiện cơ xương khớp không được chứng minh rõ ràng tuy có một sô” các biểu hiện liên quan đến suy giảm miễn dịch (viêm đa cơ, viêm mạch, viêm khớp kết hợp ỏ bệnh nhân nhiễm HIV và hội chứng thâm nhiễm bạch cầu lympho lan tỏa). Việc điều trị các thuốc kháng virus kết hợp, ức chê” các enzym tiêu protein như proteases… làm giảm tỷ lệ các bệnh cơ xương khớp ỏ bệnh nhân nhiễm HIV, gợi ý cơ chê” gây tổn thương xương khốp do chính bản thân virus. Hơn nữa, cơ chế gây các triệu chứng hoặc bệnh lý cơ xương khốp là tê” bào T CD4 độc lập và tê” bào CD 8 có thể đóng vai trò quan trọng hơn nữa trong cơ chê” bệnh sinh. Hội chứng Reiter lúc đầu được cho là virus HIV gây nên, song hiện nay chỉ là bệnh lý lây theo đường tình dục mà những người nhiễm HIV là đối tượng nguy cơ cao. Nồng độ cao ARN truyền tin (mARN) có môi liên quan trực tiếp tới bệnh lý cơ hội và tử vong. Nồng đồ cao này cũng liên quan tối tình trạng giảm sô” lượng tê” bào T CD 4. Nồng độ cao mARN hút ra được từ các nang ở tuyến mang tai gợi ý rằng chính những tê” bào bị nhiễm virus HIV gây nên các triệu chứng bệnh lý, đặc biệt là hội chứng thâm nhiễm bạch cầu lympho lan tỏa.

Vai trò trực tiếp của các tự kháng thể đối với các biểu hiện cơ xương khớp

Bất thường về xét nghiệm thường gặp nhất ỏ bệnh nhân nhiễm HIV là bệnh lý tăng đa dòng gammaglobulin, gặp ở trên 45% sô” bệnh nhân. Yếu tô” dạng thấp với tỷ giá thấp và kháng thể kháng nhân gặp ở 20 % bệnh nhân. Sự có mặt của kháng thể anticardiolipin IgG gặp ở trên 90% bệnh nhân nhiễm HIV tiến triển thành AIDS, tuy nhiên, chúng hiếm khi có triệu chứng lâm sàng ngay, chúng

không kết hợp với kháng thể kháng anti p2 glycoprotein I. cả hai loại cANCA và pANCA đã được phát hiện ở bệnh nhân nhiễm HIV, mặc dù không có các triệu chứng viêm mạch điển hình. Tóm lại bệnh nhân thường bị chẩn đoán nhầm do các kháng thể rất thường gặp, song không có mối liên quan về mặt lâm sàng với sự khởi phát các triệu chứng viêm khớp đặc hiệu.

viem xuong khop

viêm khớp thái dương hàm có chữa được không

đau cột sống cổ