Chụp đĩa đệm và chụp cắt lớp vi tính

25/11/2016 02:47

CHỤP ĐĨA ĐỆM
(Xem Lâm sàng thần kinh, Nhà xuất bản Y học, 1998, trang 604 – 609).
Chụp đĩa đệm (discography) đã được Janghans nghiên cứu từ 1931 và Lindblom đưa vào sử dụng trong lâm sàng từ năm 1948. Smith là người đầu tiên chụp đĩa đệm cột sống cổ.
Đây là phương pháp chẩn đoán trực tiếp các thể TVĐĐ, nhìn thấy được các thay đổi về hình thái và cấu trúc bên trong của đĩa đệm thoát vị. Deopujari (1996) thấy chụp đĩa đệm chỉ chẩn đoán đúng 56%.
Đây là một thủ thuật phải can thiệp, từ khi chụp MRI phát triển, phương pháp chẩn đoán này không còn thích hợp.
CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH
(Xem Lâm sàng thần kinh, Nhà xuất bản Y học, 1998, trang 609- 623).
Housíìeld và Ambrose (1971) đã tìm ra kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính (CT. scan). Co hai phương pháp chụp cắt lốp vi tính chính: không dùng thuốc cản quang hoặc có tiêm thuốc cản quang kết hợp.
1. Phương pháp chụp cắt lớp vi tính không dùng thuôc cản quang
Chụp lớp mỏng lmm, trên các ảnh cắt ngang và ảnh xoắn ốc thấy đĩa đệm thoát vị có tỷ trọng trên 80 đơn vị Hounsíỉelđ. Nhưng có nhược điểm là không phân biệt được đĩa đệm thoát vị với phì đại dây chằng dọc sau hay bị nhiễu do vai nên không phù hợp với những bệnh nhân béo, vai rộng, cổ ngắn và chỉ nên chụp cho các mức đĩa đệm trên CVI – CVII.

thoái hóa đốt sống lưng

cách trị thoái hóa đốt sống cổ

thoai hoa cot song lung uong thuoc gi

2. Phương pháp chụp cắt lớp vi tính có dùng thuốc cản quang
Có hai kỹ thuật chính:
a. Chụp cắt lớp vi tính sau tiêm thuốc cản quang đường tĩnh mạch
Lớp cắt mỏng 1 – 2 mm cho thấy bờ trước ông sống gồm dây chằng dọc sau, đám rối tĩnh mạch sau đốt sống và thành trước của bao rễ. Hình ảnh thoát vị đĩa đệm như một vết sẹo nhỏ có tỷ trọng thấp hớn dính liền bờ trưổc ống sống. Nếu thoát vị đĩa đệm vào lỗ gian đốt sống thì không nhìn thấy trực tiếp khối thoát vị, nhưng có thể thấy dấu hiệu gián tiếp là ứ máu tĩnh mạch trong lỗ gian đốt sống. Ngoài ra còn nhìn thấy các gai xương, hẹp ống sống cổ.
b. Chụp cắt lớp vi tính sau tiêm thuốc cản quang vào ống sống
Được Di Chiro và Chelliger đề xuất 1976, cho phép chẩn đoán vị trí và mức thoát vị, kích thước ống sống và lỗ gian đốt sông, các biến đối của đốt sống hoặc tắc nghẽn lưu thông dịch não tuỷ và các bất thường ỏ xa đường giữa.
Theo Greeberg (1997), chụp cắt lớp vi tính sau tiêm thuốc cản quang vào trong ống sống chính xác đối vối các bệnh cột sống cổ là xấp xỉ 98%. Phương pháp này được chỉ định khi không thể chụp được cộng hưởng từ hoặc khi cần biết kỹ hơn về xương. Nhưng đây là một phương pháp can thiệp nên phải nằm viện qua đêm và hình ảnh từ đốt sông CVI đến Dj hay bị nhiễu do vai bệnh nhân.
Phương pháp này có thể chẩn đoán TVĐĐ ra sau, các thể TVĐ đệm là phản chỉ định của liệu pháp hoá tiêu nhân (TVĐĐ có mảnh rời, TVĐĐ thành khôi lốn, TVĐĐ trên cơ sở hẹp ông sống). Do đó phương pháp này được coi là một xét nghiệm đáng tin cậy để hướng dẫn phẫu thuật và hoá tiêu nhân.