Chức năng của đĩa đệm

23/11/2016 03:40

1. Chức năng chung của đĩa đệm
– Nốĩ các đốt sống: cột sống được cấu tạo bởi một chuỗi các đốt xương cứng xen kẽ với các đĩa đệm là tổ chức liên kết đàn hồi. Do đó cột sống có hai đặc tính ưu việt là vừa có khả năng đứng trụ vững chắc cho cơ thế lại vừa có thể xoay chuyển về tất cả các hướng.
– Phục vụ cho khả năng vận động của các đốt sống kế cận và của toàn bộ cột sống nhờ khả năng biến dạng và tính chịu nén ép của đĩa đệm. Đĩa đệm trở thành điểm tựa trung tâm của mọi vận động cột sống, cùng khả năng chuyển trượt của các khốp đốt sống đã tạo nên một trường vận động nhất định cho cột sống.
– Chức năng chống đỡ trọng lượng của đầu và giảm xóc chấn động hay hấp thụ một mức độ đáng kế các chấn động và rung xóc tác động lên não và tuỷ sống (chức năng này được đảm bảo bởi các đĩa đệm và ưỡn sinh lý của cột sống cổ). Nhân nhầy như một bọc dịch lỏng có khả năng trải đều và cân đối các áp lực dọc trục tới toàn bộ vòng sợi và mâm sụn. Do đó tải trọng truyền xuống đốt sống phía dưới đã giảm đi nhiều. Hirsh (1963) đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng dưối tải trọng lOOkg, chiều cao của một đĩa đệm giảm xuống chừng l,4mm; trong khi bề ngang của nó tăng lên 0,75mm. Một trọng lực 500kg đè ép theo trục là đủ để làm vỡ một đĩa đệm bình thường. Trong THCSC thì chỉ cần tải trọng 200kg đã làm vỡ đĩa đệm.
Nhờ có khả năng chuyển dịch sinh lý của nhân nhầy và tính chun giãn của vòng sợi, đĩa đệm có tính thích ứng và đàn hồi cao và có độ vững chắc đặc biệt chống được những chấn động mạnh. Nếu do rạn rách hoặc mất khả năng chun giãn của vòng sợi, nhân nhầy có thể bị chuyển dịch ra khỏi phạm vi sinh lý của nó, hình thành thoát vị đĩa đệm.
2. Chức năng từng phần của đĩa đệm
a. Chức năng của nhân nhầy
Nhân nhầy có 4 chức năng chính:
– Điểm tựa
Nhân nhầy hoạt động như một hòn bi lớn (ball bearing), hai thân đốt sông kề nhau có thể vận động xung quanh điểm tựa (đĩa đệm) tạo cho cột sống có một trường vận động nhất định.
– Cân bằng chấn động
Khi bị ép, nhân nhầy (như một bọc dịch lỏng) truyền lực này một cách đồng đều khắp mọi hướng, truyền đến toàn bộ vòng sợi và mâm sụn để cân bằng chấn động (equalization of stress) (nếu chỉ một vùng nhỏ vòng sợi nhận tất cả áp lực nó sẽ bị căng ra và rách, nhân nhầy có thể bị chuyển dịch ra khỏi phạm vi sinh lý của nó gây ra TVĐĐ; nếu áp lực chỉ dồn vào một điểm nhỏ ở mặt trên hay mặt dưối thân đốt xương sẽ bị tiêu ở chỗ bị ép).
– Giảm xóc
Nhân nhầy tuy không nén được nhưng có thể thay đổi hình dạng để giảm xóc chấn động (shock absorbing). Khi nhân nhầy bị ép, nó hơi bị xẹp xuống và truyền lực đến vòng sợi. Lực ép được truyền đồng đều cho toàn bộ vòng sợi và làm giảm sự đè ép trên thân đốt sông. Do đó đĩa đệm đảm bảo chức năng “giảm xóc” cho cơ thể, làm giảm nhẹ chấn động theo dọc trục cột sống do trọng tải.
– Trao đổi chất lỏng (íluiđ exchange).
Nhân nhầy đóng vai trò quan trọng trong sự trao đổi tự do chất lỏng giữa đĩa đệm và các cấu trúc kế cận, nhất là vối thân đốt sống.

benh viem khop

viêm khớp thái dương hàm

thuoc tri viem khop

b. Chức năng của vòng sợi
Vòng sợi có 5 chức năng chính:
– Giữ vững cột sống.
Các sợi của vòng sợi hám chặt vào mâm sụn và vành xương nốì các thân đốt sống vào nhau để giữ vững cột sống (stability).
– Các cử động nhỏ của đốt sống:
Nhò vòng sợi đốt sống có được các cử động nhỏ là do: + Vòng sợi co được.
+ Có sự đổi hướng các sợi (sự xắp xếp của các sợi vừa chạy nghiêng vừa xoay ốc từ thân đốt sông này đến thân đốt sông kế tiếp và các sợi của mỗi lớp kế cận tạo thành góc đối nhau).
– Dây phanh
Vòng sợi hoạt động như một dây phanh (check liganment), giới hạn vận động các thân đốt sống khi các sợi bị căng hết mức do thân đốt sống xoay hoặc nghiêng.
– Nơi chứa nhân nhầy
Vòng sợi chứa nhân nhầy, giữ cho nó ở vị trí trung tâm. Khối nhân nhầy bình thường đủ làm cho vòng sợi hơi căng khiến cho vòng sợi phồng ra.
– Giảm xóc
Bình thường các sợi co giãn của vòng sợi đã bị kéo hơi căng. Khi nhân nhầy bị ép các sợi sẽ bị căng thêm, tất cả lực đè trên cột sống sẽ được phân chia đều cho toàn vòng sợi.
c. Chức năng của mâm sụn
Có hai chức năng chính:
– Bảo vệ thân đốt sống
Các mâm sụn bảo vệ thân đốt sông do sự dẫn truyền trọng lượng. Mặt trên và dưới của thân đốt sống chịu sức ép rất mạnh nhưng xương không tiêu đi khi mâm sụn còn nguyên vẹn.
– Trao đổi chất lỏng giữa đĩa đệm và thân đốt sông.
Đĩa đệm người trưởng thành hoàn toàn vô mạch, sự dinh dưỡng và bài tiết cặn bã được thực hiện bằng khuyếch tán (diffusion) qxia vòng sợi và mâm sụn bảo đảm sự trao đổi chất lỏng tự do giữa đĩa đệm và thân đốt sống (hữu mạch) kế cận.