Chẩn đoán xác định bệnh lý cột sống cổ

25/11/2016 02:58

Chẩn đoán lâm sàng có giá trị định hướng chẩn đoán thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Chụp X quang cột sống cổ quy ước sẽ thấy hình ảnh thoái hoá cột sống cổ (mất đường cong sinh lý, gai xương, giảm chiều cao thân đốt, hẹp khoang gian đốt, hẹp lỗ gian đốt sông) và loại trừ những trường hợẹ có hình ảnh lao, ung thư cột sông cổ… giúp cho chẩn đoán TVĐĐ côt sống cô chính xác hơn.

Chẩn đoán xác định bằng chụp cộng hưởng từ cột sống cổ.

Đặc điểm đau cột sống cổ do bệnh lý vùng cổ không do TVĐĐ là:

  • Đau thường khu trú rõ, đau liên tục, có xu hướng tăng dần, đau tăng khi nghỉ và nhất là ban đêm, một số trường hợp cột sống cổ có chỗ gồ lên, ấn đau nhói.
  • Đau không giảm khi điều trị nội khoa trong trường hợp đau rễ do các nguyên nhân chèn ép khác.

Chẩn đoán phân biệt TVĐĐ cột sống cổ vối các nguyên nhân khác gây đau cột sống cổ, có thể là do bệnh lý cột sống cổ, do bệnh lý bên trong ống sống cổ hoặc do bệnh lý bên ngoài cột sống cổ. Cũng có khi THCSC và TVĐĐ cột sống cổ tồn tại đồng thời với các bệnh lý khác.

  1. Bệnh lý cột sống cố

Đau cột sống có thể là đau từ đĩa đệm, khớp đốt

sông, gân, cơ, dây chằng dọc sau, đau từ màng xương do kích thích vào nhánh màng tuỷ (nhánh thần kinh ! quặt ngược).

Đau từ đĩa đệm (đau do mất trọng tải) là do đĩa  đệm (đã bị thoái ho á) tăng hấp thu dịch thể bị chứa căng nước, phình lên, chèn vào dây chằng dọc sau (rất nhậy cảm với đau), nhưng khi ngồi dậy và vận động cột sống cổ, sự cân bằng áp lực sẽ nhanh chóng được hồi phục lại, các biểu hiện đau sẽ mất đi.

 

Bệnh lý cột sông cổ thường do các nguyên nhân sau đây:

  1. Thoát vị đĩa đệm cột sông cổ kết hợp với thoát vịđĩa đệm cột sông thắt lưng (xem Hồ Hữu Lương – đau thắt lưng và thoát vị đĩa đệm, Nhà xuất bản Y học, 2005, trang 184-185)
  2. Thoát vị đĩa đệm cột sông lưng
  3. Cơ chế bệnh sinh thoát vị đĩa đệm cột sống lưng (theo Hồ Hữu Lương, 2003) (theo sơ đồ 3.1)
  4. Biểu hiện lâm sàng thoát vị đĩa đệm cột sống lưng (theo Hồ Hữu Lương, 2003)

Thường khỏi phát sau chấn thương, mang vác nặng.

Gồm hội chứng cột sống lưng kết hợp vối một trong ba hội chứng sau: hội chứng rễ thần kinh lưng (đau dọc theo dây thần kinh gian sườn), hội chứng rễ – tủy lưng và hội chứng tủy lưng.

– Hội chứng cột sông’ lưng:

Điểm đau cột sống tại chỗ TVĐĐ/

Điểm đau cạnh sống

Đau và co cứng cơ cạnh sống.

Đau có tính chất cơ học.

điều trị thoái hóa đốt sống cổ

thoai hoa cot song that lung nen an gi

benh thoai hoa cot song co nguy hiem khong

Có dấu hiệu gập góc trên -phim X quang cột sông lưng và trên lâm sàng

  • Hội chứng rễ lưng:

Rối loạn cảm giác (đau, dị cảm hoặc giảm cảm giác) dọc theo dây thần kinh gian sưòn.

Đau có tính chất cơ học.

  • Hội chứng tủy lưng

Liệt hai chi dưối kiểu trung ương hoặc hội chứng Brown — Séquard.

  • Hội chứng rễ — tủy lưng

Gồm hội chứng rễ và hội chứng tủy lưng.

BỆNH ÁN MINH HOẠ 6.8:

Nguyễn Thanh H. 44 tuổi, ngõ 20, phổ” Trần Phú, Thị xã Hà Đông.’

Ngày 5 tháng 10 năm 2002 sau khi vươn vai mạnh thì đau vùng đốt sống D5-D6, một tuần lễ sau tự khỏi.

Ngày 20 tháng 9 năm 2003 đau tái phát sau vươn vai mạnh, cũng tự khỏi sau một tuần.

Ngày 20 tháng 12 năm 2004 sau khi cúi nâng một vật nặng (khoảng 50 kg) từ mặt đất lên cao Im thì cảm thấy có tiếng “khục” đồng thời đau ỏ cột sống vùng đốt sông lưng D5-D6 và đau dọc theo dây thần kinh gian sườn 5 từ cột sông sang ngực trái, có dấu hiệu gập góc ở đốt sống D5-D6 trên lâm sàng và X quang cột sống (hình 6.1)

Điều trị bảo tồn, có kéo giãn cột sống lưng trên giường kéo giãn cột sống của Hồ Hữu Lương (1988), một đai kéo từ dưới nách, một đai kéo ỏ vùng thắt lưng – chậu.

Sau điều trị 25 ngày, bệnh nhân hết đau, vận động cột sống bình thường.

Hình 6.1: Bệnh nhan Nguyễn Thanh H.

A.HÌnh ảnh TVĐĐ D5-D6, B. Dấu hiệu gập góc ở đốt sống D5-D6

  1. Ung thư cột sôhg cổ

Có thể là ung thư nguyên phát (sacôm xương: osteosarcoma) hoặc di căn. Hiếm gặp ung thư nguyên phát ở thân đốt sống, hầu hết là di di căn từ nơi khác như: ung thư phế quản, vú, tuyến tiền liệt, tinh hoàn, tuyến giáp; thường gặp ở bệnh nhân lốn tuổi.

  • Triệu chứng lâm sàng;

+ Hội chứng cột sống cổ: đau tại chỗ cột sông cổ bị bệnh. Đau tăng lên nhanh, đôi khi tăng hàng ngày, đến mức đau dữ dội nằm nghỉ không đỡ, đêm không ngủ được do đau.

+ Hội chứng kích thích rễ thần kinh: đau dọc theo rễ thần kinh cổ xuất hiện muộn.

+ Hội chứng chèn ép tuỷ.

+ Toàn thân suy sụp nhanh.

  • X quang: có hình ảnh tiêu xương hoặc đặc xương.

Hình ảnh tiêu xương đốt sông cổ (có thể ở cả thân đốt và cung sau), có hình khuyết xương và xẹp thân đốt nhưng các khoang gian đốt vẫn rộng bình thường (đĩa đệm không bị xẹp).

Hình ảnh đặc xương (hình ảnh “đốt sống ngà” vertèbre đivoire): ít gặp hơn.

Chọc hút tại chỗ thương tổn, làm xét nghiệm tế bào có thể cho chẩn đoán xác định.

  1. u lành tính cột sống cổ

Thường gặp ở trẻ em và thanh niên, bao gồm:

  • u xuất phát từ thân đốt sông cổ:

u tương bào (plasmoma): ngoài triệu chứng đau cột sống cổ còn có những biểu hiện đặc trưng của bệnh là tăng tốc độ lắng hồng cầu, xuất hiện paraglobulin trong điện di và thấy protein Bence – Jone trong nước tiểu.

u máu (hemangioma) ỏ quanh đốt sống có thể gây huỷ xương tăng dần, dễ nhầm với u ác tính.

u xương sụn (osteochondroma).

  1. Bệnh Kahler (bệnh đa u tuỷ xương – myeloma, myelome multiple).

Là bệnh ác tính của tuỷ xương, đặc điểm là tăng sinh có tính chất ác tính của plasmocyt, các globulin miễn dịch đơn dòng được sản xuất nhiều sẽ gây nên các thương tổn ở thận (do lắng đọng, bít tắc), ở máu (do giảm tiểu cầu), ở các bộ phận như khớp, cơ, ống tiêu hoá…

  • Lâm sàng: dấu hiệu sớm và chủ yếu là đau với đặc điểm:

Ớ bệnh nhân trên 50 tuổi.

Đau có xu hướng tăng dần, mặc dù được điều trị giảm đau và nghỉ ngơi.

Đau có kèm theo dấu hiệu kích thích rễ thần kinh, đau lan theo dọc các dải cảm giác da của rễ thần kinh.

Các dấu hiệu lâm sàng khác đều xuất hiện muộn hoặc không có (u xương, lách to, hạch to, thiếu máu, xuất huyết…).

  • X quang: dấu hiệu mất vôi nặng, lan toả, thân đốt sống biến dạng và lún (hình chêm, hình thấu kính lõm, hình lưỡi…) là dấu hiệu gợi ý chẩn đoán rất quan trọng (nhất là ở xương sườn sẽ thấy hình mất vôi và khuyết hình hốc lan rộng).
  • Xét nghiệm:

+ Có hiện tượng tăng gama, globulin, được biểu hiện bằng:

Tốc độ lắng hồng cầu tăng rất cao (do tăng kết dính các hồng cầu).

Protein máu tăng nhiều.

Điện di protein huyết thanh thấy gama globulin tăng nhiều.

Miễn dịch điện di: một trong các loại globulin miễn dịch tăng (IgG, A,D,E. ..).

Nước tiểu: khoảng 50% trường hợp có protein Bence Jones (là một loại protein có phân tử lượng thấp và dễ qua cầu thận).

+ Calci máu tăng (> 105 mg/1) là hậu quả của tiêu xương.

+ Công thức máu: xu hướng giảm ba dòng (hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu).

  • Xét nghiệm tuỷ xương (chọc dò ỏ các u xương lồi trên da hoặc ở vùng tiêu xương) có giá trị quyết định chẩn đoán khi thấy tỷ lệ tế bào plasmocyt tăng trên 15% (bình thường dưối 5% ít khi thấy tăng plasmocyt ở máu ngoại vi).
  • Điều trị:

Dùng Melphalan, cyclophosphamid, Vincristin kết hợp với Prednisolon đê kìm hãm quá trình tăng sinh tế bào.

Dùng calcitonin (Calcitar, Calcyn, Cibacalcin Miacalcic).

  1. Viêm cột sông cổ do vi khuẩn
  2. Viêm cột sống cổ do lao (lao cột sống cổ)

* Khoảng 4% viêm xương ở cột sống cổ là do lao cột sống cổ, 0 áp xe (abscess) và hoại tử xương có thể gây chèn ép rễ và tủy sông (xem Bệnh học thần kinh, Nhà xuất bản Y học, trang 300 – 302)

* Hình ảnh MRI lao cột sống cổ

  • Ồ thương tổn khu trú ở hai thân đốt sông liền kề và đĩa đệm ở giữa thành một khối.
  • Phá huỷ không hoàn toàn, các thân đốt sống.
  • Hẹp đĩa đệm hoặc không còn thấy đĩa đệm.
  • Giảm tín hiệu trên Tl, tăng tín hiệu trên T2, lấn vào khoang ngoài màng cứng đè ép tuỷ, ngấm thuốc mạnh không thuần nhất, có thể thấy ổ mủ.
  1. Viêm cột sống cổ do vi khuẩn khác
  • Thường gặp ở trẻ em và người cao tuổi
  • Có những ổ viêm xương thành mủ ỏ cột sống lan vào khoang ngoài màng cứng.
  • Biểu hiện lâm sàng:

+ Cứng gáy.

+ Hạn chế vận động cột sông cổ

+ Đau tăng khi ép cột sống cổ theo trục dọc và khi gõ lên mỏm gai đốt sông bị thương tổn.

+ Có hội chứng rễ và hội chứng tuỷ khi có trượt đốt sống hoặc viêm lan vào khoang ngoài màng cứng.

  • ít khi tìm thấy vi khuẩn gây bệnh.

 

  • Chấn thương gẫy, vỡ đốt sống cổ gây chèn ép hoặc di lệch tuỷ, phù tuỷ, đụng giập tuỷ. Các thể lâm sàng của chấn thương gẫy đốt sống cổ (xem Hồ Hữu Lương – Phục hồi chức năng đối với người liệt hai chi dưới do chấn thương cột sống – tủy sống, Nxb Y học, 2005, trang 41-43)
  • Hình ảnh MRI của chấn thương cột sống cổ:

+ Thân xương: gẫy hoặc vỡ, có di lệch, trượt thân đốt ra sau làm hẹp ông sống cổ, xẹp thân đốt không vỡ, đụng giập thân đốt (tăng tín hiệu trên TI, T2).

+ Tuỷ sống:

Bị chèn ép hoặc đẩy lệch bởi xương vỡ.

Phù tuỷ: biểu hiện bằng tuỷ phình to hơn bình thường, đường kính tuỷ chiếm gần hết ông sống, lấp khoang dịch não tuỷ, tăng tín hiệu T2, tín hiệu TI không đổi.

Đụng giập tuỷ: biến đổi hoặc mất cấu trúc bình thường của thân tuỷ, tăng tín hiệu cả TI và T2 không đồng nhất.

Rỗng tuỷ do chèn ép lâu.

Phần mềm cạnh sống: đụng giập, phù nề, chảy máu; tăng tín hiệu trên T2 không đồng nhất.

(Xem Đau thắt lưng và thoát vị đĩa đệm, Nhà xuất bản Y học, 2001, trang 145).