Chẩn đoán và điều trị viêm khớp vảy nến

11/10/2016 02:33
  1. Chẩn đoán xác định bệnh viêm khớp vẩy nến

Có rất nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm khớp vẩy nến như tiêu chuẩn Moll và Wright — 1973 và tiêu chuẩn của nhóm nghiên cứu bệnh lý cột sống của châu Âu – ESSG (European Spondyloarthropathy Study Group). Trong sô” đó tiêu chuẩn Moll và VVright – 1973 là tiêu chuẩn đơn giản nhất và được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu hiện nay.

Tiêu chuẩn Moll và Wright — 1973

Tiêu chuẩn Moll và Wright — 1973 đòi hỏi phải đáp ứng ba yếu tô” sau:

  • Viêm khớp (viêm khớp ngoại vi và/hoặc viêm khóp cùng chậu hoặc viêm cột sông).
  • Có bệnh vẩy nế
  • Yếu tô” dạng thấp trong huyết thanh âm tính.

Tiêu chuẩn của nhóm nghiên cứu bệnh lý cột sống của châu Âu — ESSG (European Spondyloarthropathy Study Group).

Bắt buộc có triệu chứng đau cột sông do viêm hoặc viêm màng hoạt dịch khớp (không đối xứng hai bên hoặc chủ yếu ở chi dưới), kèm theo ít nhất một trong hai yếu tố sau: có tiền sử gia đình vẩy nến hoặc bản thân bị vẩy nến.

  • Viêm cột sống dính khớp

Cần phân biệt với các bệnh khác thuộc nhóm bệnh lý cột sống huyết thanh âm tính, đặc biệt bệnh viêm cột sống dính khớp.

Viêm cột sống dính khốp gặp chủ yếu ỏ nam giới, không có ngón tay hình khúc dồi, không có tổn thương da và móng của bệnh vẩy nến. Cột sống bị tổn thương nặng hơn, các cầu xương có nhiều hơn, vận động của cột sống bị hạn chế nặng hơn, viêm khớp cùng chậu ỏ giai đoạn 4 gặp nhiều hơn.

  • Viêm khớp dạng thấp

Trong bệnh viêm khốp dạng thấp, nữ giới chiếm đa số, tổn thương chủ yếu ở khớp bàn ngón và khớp ngón gần đối xứng hai bên, ít gặp ở khóp ngón xa và cột sông. Bệnh nhân không có viêm các điểm bám gân và ngón tay — ngón chân hình khúc dồi, không có tổn thương vẩy nến tại da và móng.

Xquang bàn tay: hình ảnh mất chất khoáng đầu xương, không có hình ảnh bút chì cắm trong lọ mực và không có viêm khốp cùng chậu.

Yếu tô” dạng thấp trong huyết thanh dương tính, anti – CCP dương tính.

Trường hợp bệnh nhân viêm khớp vẩy nến có tổn thương ỏ khớp ngón xa cần chẩn đoán phân biệt với thoái hoá khớp. Trong thoái hoá khớp, bệnh nhân đau khớp kiểu cơ học và không có các tổn thương da và móng như viêm khớp vẩy nến.

  • Gút cấp tính

Đối với viêm khớp vẩy nến thể viêm vài khớp không đốì xứng, cần chẩn đoán phân biệt với gút cấp. Trong gút cấp, khớp bị viêm sưng, nóng, đỏ, đau nhiều, kèm theo viêm phần mềm quanh khớp. Chẩn đoán gút dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán của Benette và Wood — 1968. Trong viêm khớp vẩy nến, mức độ viêm khớp nhẹ hơn và không có viêm phần mềm quanh khốp.

  1. Điều trị viêm khớp vảy nến

Các thuôc điểu trị bệnh viêm khớp vẩy nến

Trong viêm khớp vẩy nến, chọn phác đồ điều trị cho bệnh nhân phụ thuộc vào vị trí khớp bị tổn thương (khớp ở ngoại vi hay hệ trục), mức độ tổn thương của khớp và da.

  • Thuốc chống viêm không steroid (CVKS)

Chỉ định cho cả thể tổn thương khốp ngoại vi và cột sống — cùng chậu. Là thuốc được chọn lựa đầu tiên trong điều trị viêm khớp vẩy nến vì có hiệu quả với hầu hết bệnh nhân.

  • Thuốc điều trị cơ bản (DMARDs)

Chỉ định đối vối những trường hợp đáp ứng kém với thuốc chống viêm không steroid và thể viêm nhiều khớp, huỷ xương nhiều. Chỉ định các thuốc điều trị cơ bản càng sớm càng tốt.

+ Methotrexat: liều 7,5 — 15mg/l tuần, có tác dụng tốt với tổn thương da và viêm các khớp ngoại vi.

+ Sulfasalazin (Salazopyrin): liều 2 — 3g/ngày, có hiệu quả với cả viêm khớp ngoại vi và cột sống – cùng chậu, song không có tác dụng với tổn thương da.

+ Chloroquin, azathioprin, cyclosporỉne A: đều có hiệu quả trong điều trị viêm khớp vẩy nến.

  • Corticoid

+ Corticoid dùng đường toàn thân: có thể dùng liều thấp trong thời gian ngắn, kết hợp với các thuốc điều trị cơ bản như liệu pháp cầu nối trong khi chò đợi các thuôc điều trị cơ bản phát huy tác dụng. Chỉ định đối với thể viêm nhiều khớp, các khớp bị phá huỷ nhiều, bệnh tiến triển nặng.

+ Corticoid tiêm nội khớp: chỉ định đối với thể viêm vài khốp. Tuy nhiên, không nên tiêm corticoid vào những vị trí khốp có tổn thương da của bệnh vẩy nến kèm theo do ở tại vị trí tổn thương da thường khu trú nhiều tụ cầu và liên cầu.

Các phương pháp điểu trị khác

  • Liệu pháp quang hoá học: có hiệu quả với tổn thương da và khớp ngoại vi nhưng không có tác dụng với tổn thương cột sốn

Suối khoáng: đặc biệt loại có lưu huỳnh (suôi khoáng Mỹ Lâm – Tuyên Quang) có hiệu quả rất rõ rệt đốì với tổn thương da. Suối khoáng cũng có hiệu quả hỗ trợ phục hồi chức năng vận động khớp như trong các bệnh khác.

chữa thoái hóa đốt sống cổ bằng thuốc nam

thoái hóa đốt sống lưng nên ăn gì

thoái hóa khớp