Chẩn đoán và điều trị bệnh khớp do vi tinh thể PYROPHOSPHAT CALCI

12/10/2016 08:41

Chẩn đoán xác định

Áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh theo Hiệp hội Thấp khớp (Arthritis Foundation) Mỹ — 1997.

  • Tiêu chuẩn I — Có tinh thể calcium tại tổ chức hoặc dịch khớp (hình ảnh Xquang điển hình, vi tinh thể điển hình dịch khớp, phân tích hoá học vi tinh thể).
  • Tiêu chuẩn lìa: phân lập vi tinh thể có một hoặc ba thiết diện không phân cực hoặc phân cực yếu dưới kinh hiển vi phân cực.
  • Tiêu chuẩn Ilb: có hình ảnh calci hoá sụn khớp điển hình trên Xquang.
  • Tiêu chuẩn Illa: viêm khớp cấp tính, đặc biệt khớp gối hoặc các khớp lớn khác.
  • Tiêu chuẩn Illb: viêm khớp mạn tính (khớp gôl, háng, cổ tay, khuỷu, vai hoặc khốp bàn ngón), đặc biệt nếu kèm theo viêm dữ dội. Các đặc điểm sau giúp phân biệt các viêm khốp mạn tính với thoái hoá khớp:

Vị trí ít gặp: Cổ tay, bàn ngón, khuỷu, vai.

Hình ảnh Xquang: khe khớp cổ tay-quay hoặc khớp đùi—bánh chè hẹp, đặc biệt nếu chỉ có triệu chứng này đơn độc.

Kén xương dưới sụn.

Mức độ thoái hoá nặng, tiến triển với hốc xương dưới sụn, thể ngoại lại nội khớp. Gai xương tân tạo, calci hoá dây chằng, đặc biệt gân tam đầu, Achilles, mấu chuyển lớn.

Chẩn đoán

  • Chẩn đoán chắc chắn: nếu có yếu tố I hoặc lia và Ilb
  • Chẩn đoán nghi ngờ: có một yếu tố Ha hoặc Ilb
  • Chẩn đoán gợi ý: có một yếu tố Illa hoặc Ill

Một số yếu tố có thể kết hợp với bệnh khớp do vi tinh thể pyrophosphat calci; vì vậy, khi chẩn đoán bệnh này ở người dưới 60 tuổi, cần khảo sát một số thông số trong huyết thanh như sau: calcium, magiê, phospho, phosphatase kiềm, sắt, khả năng gắn sắt toàn thể (total iron—binding capacity (TIBC), transferrin bão hoà và íerritin, hormon kích thích tuyến giáp (thyroid—stimulating hormone).

Điều trị

Điều tri nội khoa

Chỉ định điều trị phụ thuộc biểu hiện lâm sàng.

  • Thể không có biểu hiên lăm sàng

Thể này không cần điều trị, ngoại trừ khi có biểu hiện của các triệu chứng kết hợp như cường cận giáp trạng hoặc nhiễm thiết huyết tố. Trị liệu này không có khả năng phục hồi các khớp bị tổn thương mà chỉ phòng ngừa được tổn thương của các cơ quan đích.

  • Điều trị thể giả gút

Điều trị viêm khớp cấp tính

Thuốc chôhg viêm không steroid: do bệnh thường xảy ra ở người lớn tuổi, nên chỉ định các loại chống viêm không steroid có thòi gian bán huỷ nhanh thường tốt hơn loại chậm. Các loại chông viêm không steroid có gắn mạnh với 95% albumin của huyết tương nên dễ có nguy cơ tương tác với các thuốc khác (đặc điểm của người lớn tuổi là đồng thời mắc nhiều bệnh). Chỉ định phải thận trọng ở các trường hợp có suy thận, tim và gan. Liều tuỳ theo tình trạng lâm sàng đáp ứng của bệnh nhân: bệnh nhân đủ dễ chịu và ở trong giới hạn dung nạp được. Nói chung, liều chống viêm không steroid dùng cho người lớn tuổi thường bắt đầu bằng liều thấp hơn liều vẫn dùng cho người lớn. Ví dụ: Voltaren®: Viên 50 mg: ngày 2 viên, chia hai lần. Hoặc Voltaren SR 75 hoặc 100 mg/viên, ngày một viên. Các tác dụng không mong muôn dạ dày- ruột là kinh điển đối với nhóm thuốc này, gây hậu quả chảy máu đường tiêu hoá. Có thể hạn chế tác dụng này bằng cách kết hợp với thuốc ức chế bơm proton (ví dụ: omeprazol 20 mg hoặc esomeprazol 20 mg mỗi tối uống 01 viên trước khi đi ngủ). Đây là thuốc thường được lựa chọn đầu tiên. Có thể thay thế thuốc chống viêm không steroid kinh điển bằng thuốic ức chế chọn lọc COX-2 vì người có tuổi là các đối tượng có nguy cơ với các tai biến dạ dày tá tràng. Tuy nhiên, cần lưu ý chông chỉ định của nhóm này là bệnh nhân có tiền sử tim mạch.

Colchicin: colchicin thường được chỉ định liều cao như điều trị bệnh gút cấp. Thường khỏi đầu bằng 3 mg (viên nén—1 mg) trong 24 h, chia 3 lần, trong 2 ngày; tiếp theo: 2 mg/ 24 h, chia hai lần, trong 2 ngày tiếp; sau đó: 1 mg/ 24 h, duy trì trong 15 ngày để tránh tái phát. Tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nào đánh giá hiệu quả của colchicin liều cao và nói chung khả năng chông viêm của thuốc trong bệnh này cũng không thật cao như điều trị cơn gút cấp.

Các thuốc giảm đau: tương tự trong điều trị triệu chứng các bệnh khốp khác, sử dụng kết hợp các thuốc giảm đau theo sơ đồ bậc thang của Tổ chức Y tế Thê giới (WHO). Trong bệnh calci hoá sụn khớp, thường chỉ cần dùng thuốc giảm đau bậc 1 (Thuốc không có morphin (paracétamol, salicylés, noramidopyrine, floctafenine) hoặc bậc hai là các loại morphin yếu (codein, dextropropoxyphene, buprenorphine, tramadol).

Chọc hút dịch khớp, tiêm corticosteroid nội khớp: có thể chỉ định trong trường hợp viêm vài khóp lớn và nhỡ, đạt hiệu quả tốt. Có hai loại chế phẩm như sau:

+ Hydrocortisone acetate: mỗi đợt 2-3 mũi tiêm cách nhau 5 — 7 ngày. Không vượt quá 4 mũi tiêm mỗi đợt.

+ Các chế phẩm tác dụng kéo dài (Diprospan, Depomedrol): mỗi đợt 1 — 2 mũi, cách nhau 6 — 8 tuần.

Acid hyaluronic (Go-on ®, Hyalgan®) đường tiêm nội khớp cũng mang lại hiệu quả tốt trong các trường hợp.

Nội soi rửa khớp: chỉ định trong trường hợp các liệu pháp trên ít hoặc không hiệu quả.

Điều trị dự phòng đợt viêm khớp tái phát

Colchicin: tuy không đạt hiệu quả chống viêm khớp trong các đợt có viêm khớp cấp tính, liều colchicin 1 mg/ 24 h, có hiệu quả điều trị dự phòng, giảm tần suất xuất hiện các đợt viêm khớp cấp.

Thuốc chống viêm không steroid: một số tác giả đề nghị dự phòng bằng các thuốc chống viêm không steroid kéo dài, song hiệu quả không chắc chắn.

Magienium: các chế phẩm chứa Magienium khi dùng kéo dài có hiệu quả điều trị dự phòng, giảm tần suất xuất hiện các đợt viêm khớp cấp trong bệnh calci hoá sụn khớp. Cơ chế: magienium làm tăng độ hoà tan của tinh thể pyrophosphat calci, và magienium là một cofacteur quan trọng của phosphatase kiềm, do vậy có tác dụng giảm đau và giảm tần suất của các cơn viêm khớp cấp.

Các thuốc chống thoái hoá khớp tác dụng chậm: các thuốc thuộc nhóm này như glucosamin sulíat (Viarthril-S®), dỉacerein (Artrodar®) có thể dùng kéo dài cũng mang lại hiệu quả giảm đau và giảm tần suất của các cơn viêm khớp cấp.

  • Thể giả thoái hoá khớp

Điều trị thể này bao gồm các thuốc điều trị như thoái hoá khớp thông thường. Các thuốc chống thoái hoá khớp tác dụng chậm như glucosamin sulíat (Viarthril—s®), diacerein (Artrodar®) được dùng dài ngày. Khi bệnh nhân có đau khớp, chỉ định thêm các thuốc chống viêm không steroid và thuốc giảm đau (Paracetamol và các chế phẩm kết hợp) ngắn ngày.

Corticoids và hoặc/acid hyaluronic tiêm nội khốp cũng mang lại hiệu quả tốt.

Trường hợp khớp thoái hoá nặng, chức năng vận động giảm, có chỉ định thay khớp nhân tạo như các trường hợp khác.

  • Thể giả viêm khớp dạng thấp

Điều trị thể viêm đa khớp ngoài việc chỉ định các thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau, tiêm nội khớp như trên, một số trường hợp cần chỉ định corticosteroid liều thấp (prednisone 5 mg/ngày). Thuốc corticoid mang lại hiệu quả nhanh chóng, song có nguy có phụ thuộc thuốc cao.

Methotrexat cũng được chỉ định trong một số trường hợp.

Điều trị ngoại khoa

Về mặt lý thuyết, có thể lấy các calci hoá khỏi khớp song thực tế ít được thực hiện.

thoái hóa cột sống là gì

điều trị thoái hóa cột sống thắt lưng

thoai hoa cot song lung uong thuoc gi