Chẩn đoán phân biệt viêm quanh khớp vai

11/10/2016 03:10

Phần trên đây trình bày đặc điểm của các thể viêm khớp vai, mà nguyên nhân là tổn thương các cấu trúc cạnh khớp, cần phải chẩn đoán phân biệt với bệnh lý của các thành phần khác mà có triệu chứng đau khớp vai và hoặc kèm theo hạn chế vận động.

  • Chẩn đoán phân bỉêt với môt số nguyên nhân gây đau vai khác
  • Do nguyên nhân nội tạng: cơn đau quặn gan, viêm tụy cấp, đau thắt ngực, tổn thương đỉnh phổi.
  • Do tổn thương rễ thần kinh thuộc cột sống cổ: đặc biệt đau thần kinh — cổ cánh tay Tuy nhiên, đau thần kinh — cổ cánh tay có thể biến chứng thành viêm quanh khớp vai.
  • Do tổn thương xương: tổn thương xương vùng lân cận (phần trên của xương cánh tay, xương bả, phần ngoài của xương đòn): viêm xương do tụ cầu hoặc lao, ung thư xương nguyên phát, ung thư di căn, đa u tủy xương (Myeloma Multiple).

Phân biệt với hoại tử vô khuẩn đầu xương cánh tay: thường hai bên; chẩn đoán dựa vào hình ảnh Xquang.

Bệnh Paget khu trú ở vai, có biểu hiện Xquang rất rõ (Việt Nam hiếm gặp bệnh Paget).

  • Do tổn thương khớp: tổn thương khớp lân cận như khớp cùng vai – đòn hoặc khớp ức đòn.
  • Chẩn đoán phân biêt đau vai trong các bênh lý tai khớp vai
  • Trường hợp có triệu chứng viêm: đặc biệt cần chẩn đoán phân biệt khi có đau khớp vai dữ dội.

+ Viêm khớp vai do lao: hiếm gặp.

+ Viêm mủ hoặc viêm do tinh thể (gút hoặc calci hoá sụn khớp cấp).

+ Các bệnh khớp viêm mạn tính (viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, thấp khớp vẩy nến) khi mới bắt đầu, tuy hiếm, có thể khởi phát bằng viêm một khớp vai.

+ Giả viêm khốp ở gốc chi: chẩn đoán được nhò triệu chứng cứng và đau ở khớp vai hai bên, luôn bị cả khớp háng hai bên, ảnh hưởng toàn trạng. Hội chứng viêm trên xét nghiệm biểu hiện rất rõ (tốc độ máu lắng giờ đầu thường trên 60 mm) và có thể viêm khớp thái dương hàm của bệnh Horton kết hợp.

  • Trường hợp tổn thương khớp vai không có triệu chứng viêm

+ Thoái hoá khớp ổ chảo – xương cánh tay (thoái hoá khớp bả): thường đây là bệnh khớp sau viêm quanh khớp vai. Trên Xquang có hình ảnh của thoái hoá khốp. Tuy nhiên, thoái hoá khớp bả cũng có thể biến chứng đứt mũ gân các cơ quay do lão hoá.

+ Bệnh xương sụn hoá (osteochondromatose) ở khớp vai: hiếm gặp. Chẩn đoán khi có các thể ngoại lai trong ổ khớp trên các phim Xquang thường hoặc chụp khớp cản quang.

+ Viêm màng hoạt dịch thể lông nốt sắc tố: hiếm khi ỏ khớp vai, chẩn đoán nhò sinh thiết.

+ Các bệnh khớp do thần kinh (rỗng tủy sống, tabes): thường hủy xương nhiều, không đau.

  • Chẩn đoán loai trừ những nguyên nhăn gây liệt khớp vai thực sự

Trước khi chẩn đoán thể “giả liệt khớp vai” phải loại trừ những nguyên nhân gây liệt khớp vai thực sự. Những nguyên nhân này thường do tổn thương thần kinh.

  • Tổn thương rễ C5: (thoái hoá cột sống cổ, tổn thương đám rối cánh tay do chấn thương) hoặc thần kinh phản xạ (sau trật khốp vai): có giảm cảm giác mỏm cùng vai và teo cơ del Trong trường hợp nghi ngờ, phải làm điện cơ.
  • Đau thần kinh dưới bao khớp: luôn xuất hiện sau gắng sức, biểu hiện bằng đau sau – bên vai, liệt và teo cơ trên và dưới gai. Đau xuất hiện khi ấn vào mỏm quạ, hoặc bờ trên xương bả.
  • Đau thần kinh teo cơ Parsonage và Turner: nguyên nhân chưa rõ. Hiếm gặp, biểu hiện bằng sự xuất hiện của đau khớp vai một cách dữ dội, sau vài ba ngày, đau thuyên giảm trong khi xuất hiện liệt teo cơ đa rễ ở cơ delta, cơ quay ngắn, cơ nhị đầu, cơ răng cưa lớn, đôi khi cả cơ bậc thang. Điện cơ cho thấy bệnh lý về cơ có nguyên nhân thần kinh. Tiến triển: đau tự khỏi sau vài tháng, song triệu chứng teo cơ có thể tồn tại.

bị thoát vị đĩa đệm

đau cột sống lưng dưới

viem xuong khop