Chẩn đoán bệnh loãng xương

12/10/2016 11:09
  1. Chẩn đoán xác đinh loãng xương

Trên thực tế lâm sàng, việc chẩn đoán tình trạng loãng xương có thể dựa vào mật độ xương BMD (tiêu chuẩn vàng). Ngoài ra, có một số phương pháp khác, chủ yếu chẩn đoán loãng xương khi đã có biến chứng.

  • Chẩn đoán tình trạng loãng xương theo tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO dựa trên mật độ xương BMD: như đã nêu trên.
  • Các phương pháp chẩn đoán loãng xương khác ngoài đo BMD

Các phương pháp này chỉ phát hiện được loãng xương ở giai đoạn muộn, hoặc khi đã có biến chứng. Đó là những phụ nữ đã mãn kinh có các triệu chứng sau:

+ Giảm chiều cao so với thời thanh niên (do đốt sống bị lún xẹp).

+ Cột sống biến dạng – gù cong (còng lưng).

+ Được phát hiện lún xẹp đốt sông hoặc “thưa xương” trên Xquang.

+ Gãy xương không do chấn thương (thường gãy đầu trên xương đùi, đầu dưới xương cẳng tay).

  • Phương pháp đánh giá nguy cơ loãng xương sau mãn kinh dựa vào chỉ sốOSTA

Tại các cơ sở không có máy đo mật độ xương, có thể đánh giá nhanh nguy cơ loãng xương nhò vào các dụng cụ xác định chỉ số OSTA (Osteoporosis Self—Assessment Tool for Asians index). Các nước trong khu vực (Philippin, Thái Lan…) đã sử dụng chỉ sô” này và một sô” nước châu Âu, Mỹ cũng đã có một sô” nghiên cứu khẳng định tính hiệu quả của chỉ sô” OSTA. Chưa có nghiên cứu đôi với người Việt Nam, tuy nhiên do các tương đồng đô”i với các chủng tộc của người châu Á, có thể sử dụng chỉ số này như một hướng dẫn chỉ định đo mật độ xương và chỉ định điều trị trong trường hợp không có điều kiện đo mật độ xương.

Dụng cụ xác định chỉ số OSTA được áp dụng vối người đã mãn kinh. Tìm nguy cơ loãng xương ở điểm giao nhau giữa cân nặng và tuổi.

– ứng dụng của chỉ sô’OSTA

Nêu ở mức độ nguy cơ cao: cần khuyên bệnh nhân đi đo mật độ xương. Nếu không có điều kiện đo mật độ xương, cũng nên chỉ định điều trị thuốc chông loãng xương.

Nguy cơ trung bình: có chỉ định đo mật độ xương. Nếu mật độ xương thấp, cần điều trị thuốc chống loãng xương.

Nguy cơ thấp: không cần đo mật độ xương trừ khi có các yếu tô” nguy cơ.

Các yếu tô” nguy cơ gây loãng xương bao gồm tiền sử hoặc hiện tại đang dùng corticoid (gia tăng nguy cơ nếu liều dùng càng cao và thời gian dùng càng dài), bất động (liệt giường, ngồi xe lăn), gầy, suy dinh dưỡng đặc biệt là thiếu calci, hút thuốc, lôi sống ít hoạt động, rối loạn nội tiết (cường tuyến giáp, cường cận giáp) và sử dụng cà phê. (Xem thêm phần điều trị dựa trên có hoặc không có yếu tô” nguy cơ dưối đây).

– Phương pháp đánh giá nguy cơ loãng xương theo Hiệp hội Loãng xương Quốc tê IOF (Internation Osteoporosis Foudation)

Đánh giá nguy cơ loãng xương trên cơ sỏ trả lời bảng câu hỏi dưới đây.

  1. Cha mẹ bạn có bị gãy cổ xương đùi sau chấn thương rất nhẹ không?
  2. Bản thân bạn có bị gãy cổ xương đùi sau chấn thương rất nhẹ không?
  3. Bạn đã từng dùng cortisol, predni.. trên 3 tháng?
  4. Chiều cao của bạn có bị giảm trên 3 cm?
  5. Bạn có thường xuyên uống rượu không?
  6. Bạn có hút trên 20 điếu thuốc lá mỗi ngày không?
  7. Bạn có thường bị tiêu chảy không?
  8. Bạn đã mãn kinh (hoặc bị cắt bỏ buồng trứng) trước 45 tuổi?
  9. Bạn có mất kinh trên 12 tháng (không liên quan đến thai kỳ) không?
  10. Riêng đối với nam: bạn có bị bất lực, giảm ham muốn tình dục hoặc có các triệu chứng liên quan đến tình trạng giảm testosteron?

Lưu ý: điều kiện để chẩn đoán loãng xương nguyên phát là trên Xquang cột sống không có các vùng huỷ xương của thân đốt sống; khe đĩa đệm không bị hẹp, các cung sau hầu như bình thường. Với các xét nghiệm: hội chứng viêm âm tính (tốc độ lắng máu, CRP, điện di protein máu…) và bilan phospho—calci (calci máu, niệu, phosphatase kiềm…) phải bình thường.

  1. Chẩn đoán nguyên nhân

Việc chẩn đoán xác định loãng xương nói chung không khó nếu như đã có lún xẹp đốt sống. Tuy nhiên, phải loại trừ các lún xẹp đốt sống do các nguyên nhân khác, đặc biệt là nguyên nhân ác tính.

— Điều kiện để chẩn đoán loãng xương nguyên phát

+ Không có các thay đổi toàn trạng (không gầy sút, không có hạch ngoại biên…).

+ Không có các bất thường về nội tiết cũng như các cơ quan khác.

+ Kết quả các xét nghiệm về hội chứng viêm (tốc độ lắng máu, CRP, tỷ giá hemoglobin…) và bilan phospho-calci (calci máu, niệu, phosphatase kiềm…) phải bình thường.

Nên nhớ chẩn đoán xác định một tình trạng loãng xương là nguyên phát, phải loại trừ các loãng xương thứ phát. Phạm vi bài này không đề cập đến loãng xương thứ phát. Tuy nhiên, nếu không đủ các điều kiện trên, phải gửi đến cơ sở chuyên khoa để xác định nguyên nhân gây loãng xương.

đau khớp đầu gối

nguyen nhan gay dau lung

thuoc dau nhuc xuong khop