Các viêm gân thường gặp

11/10/2016 03:17

1. Đặc điểm chung của viêm gân (ngoài khớp vai)

  • Nguyên nhân gây các viêm gân (ngoài khớp vai)

Viêm các gân cơ bám tận tại các điểm bám tận (lồi cầu, lồi củ của xương. Do đó còn có tên gọi là viêm lồi củ, lồi cầu xương (ví dụ viêm lồi cầu xương cánh tay). Thường gặp nhất là các viêm gân ở cổ tay như viêm gân De Quervain và viêm lồi cầu xương cánh tay.

  • Triêu chứng lâm sàng chung của các viêm gân (ngoài khớp vai)

Đau ở vị trí gân bị tổn thương. Đau từng lúc hoặc liên tục cả ngày và đêm, đau tăng khi vận động, đau có thể lan dọc lên phía trên hoặc dưới của gân. Đau có thể làm giảm vận động của khớp liên quan. Khi vận động có thể nghe thấy tiếng kêu cót két nơi gân bị tổn thương.

Khám tại vị trí gân tổn thương: ấn thường có điểm đau chói. Sưng, nóng, đỏ là triệu chứng ít gặp. Khi làm một s<3 nghiệm pháp co giãn cơ và gân nơi tổn thương bệnh nhân thấy đau tăng lên. Cơ lực của cơ tương ứng có thể giảm so với bên lành do đau.

Triệu chứng toàn thân: tuỳ thuộc căn nguyên gây viêm gân, bao gân. Đa số bệnh nhân không bị ảnh hưởng tối toàn thân. Một số trường hợp viêm gân, bao gân do viêm khớp dạng thấp, nhiễm lậu cầu cấp… thì có các biểu hiện của bệnh chính như sốt, gầy sút cân hay thiếu máu V.V …

Các xét nghiệm máu không có thay đổi gì đặc biệt trừ khi có bệnh lý toàn thân.

Chụp Xquang nơi tổn thương chủ yếu giúp phân biệt vối các bệnh lý khác hoặc bệnh lý kèm theo có tổn thương tại khớp như viêm khớp dạng thấp, gút, thoái hoá khớp… Trên Xquang có thể phát hiện hình ảnh calci hoá ở đầu gân.

Siêu ăm gân cơ bằng đầu dò tần số cao (7,5—20 MHz). Hình ảnh tổn thương có thể thấy kích thước gân to hơn, giảm đậm độ siêu âm và có thể có tụ dịch bao quanh gân. Ngoài ra siêu âm còn phát hiện đứt gân từng phần hoặc hoàn toàn, tình trạng calci hoá ở đầu gân. Đối với viêm bao gân, thường thấy bao gân dày lên… Tuy vậy, giá trị chính xác cao chỉ ỏ các vị trí phần mềm dày và rộng.

Chụp công hưởng từ cho thấy hình ảnh toàn thể của cơ, xương, khớp vùng tổn thương giúp cho đánh giá chính xác các tổn thương của cả cơ, xương, khớp.

  • Chẩn đoán xác định các viêm gân (ngoài khớp vai)

Chẩn đoán chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng, đặc biệt là tính chất đau khu trú tại gân. Gần đây, siêu âm các gân với đầu dò tần số cao đem lại các thông tin quan trọng trong chẩn đoán.

Xquang chỉ phát hiện được tình trạng vôi hoá tại gân và giúp phân biệt với một sô” căn nguyên gây đau khu trú khác.

Siêu âm gân cơ và chụp cộng hưởng từ cũng góp phần trong chẩn đoán xác định ở những trường hợp viêm gân bao gân không điển hình; nhất là ỏ các vị trí có nhiều gân cơ như vai, khớp háng, khốp gối, cổ chân.

  • Chẩn đoán phân biêt

Đau khu trú ở các chi có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân gây ra, có thể do tổn thương ỏ xương, khớp, phần mềm quanh khớp. Tuỳ theo vị trí thương tổn mà chẩn đoán phân biệt các thể bệnh phần mềm quanh khớp với các bệnh: viêm khớp, thoái hoá khớp, đau do tổn thương xương, đau dây thần kinh, íìbromyagia (đau do xơ cơ).

  • Các phương pháp điêu tri

— Các biện pháp không dùng thuốc (vật lý trị liệu)

Giảm hoặc ngừng vận động chi có gân tổn thương cho tới khi hết đau.

Cố định tạm thòi gân tổn thương bằng nẹp hoặc băng, máng bột, dụng cụ chỉnh hình… Thường chỉ định đối với bệnh lý gân Achille, lồi cầu ngoài xương cánh tay, ngón lò xo, bao gân De quervain.

Chườm lạnh: chỉ định trong giai đoạn cấp tính (có sưng, nóng, đỏ). Chườm lạnh có tác dụng làm giảm tuần hoàn và giảm chuyển hoá tại nơi tổn thương, do đó làm giảm sưng và giảm viêm. Ngoài ra còn có tác dụng giảm đau. Hiện tại vẫn còn ít các nghiên cứu hiệu quả của phương pháp này.

Sóng siêu âm: tác dụng làm nóng tổ chức tại chỗ, làm tăng tuần hoàn tại chỗ, kích thích dưỡng bào giải phóng histamin và các chất trung gian hoá học, làm hấp dẫn đại thực bào và bạch cầu đa nhân đến nơi tổn thương, làm tăng nhanh pha viêm cấp và quá trình liền sẹo. Sóng siêu âm cũng kích thích nguyên bào sợi tổng hợp collagen giúp cho phục hồi thương tổn. Tuy nhiên, chưa có nhiều bằng chứng lâm sàng chứng minh lợi ích của phương pháp này.

Sóng xung kích ngoài cơ thể (shock waves): có một vài nghiên cứu gợi ý lợi ích trong điều trị bệnh lý calci hoá ở gân.

Luyện tập phục hồi chức năng: luyện tập kéo giãn gân tích cực tăng dần là phương pháp giúp phục hồi chức năng cho gân tổn thương sau giai đoạn viêm cấp tính, nhất là cho gân Achille, gân bánh chè. Tuy nhiên, kết quả tuỳ đáp ứng của mỗi bệnh nhân. Đau có thể tăng lên khi bắt đầu áp dụng phương pháp này.

– Thuốc

Thuốc chống viêm không steroid dùng đường uống hoặc tại chỗ: dùng 1 — 2 tuần.

Tiêm corticoid tại chỗ mang lại hiệu quả tốt. Corticoid có tác dụng trên nhiều giai đoạn khác nhau của quá trình viêm, không phụ thuộc nguyên nhân gây viêm. Tiêm corticoid tại chỗ là phương pháp điều trị thông dụng trong bệnh lý phần mềm quanh khốp, song vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng về hiệu quả lâu dài cũng như chưa có phác đồ cụ thể được khuyến cáo. Các chế phẩm corticoid thường dùng:

  • Hydrocortison acetat: thuốc dạng hỗn dịch, tác dụng nhanh, thời gian bán huỷ ngắn. Liều mỗi lần tiêm từ 5 – 50mg (0,2 – 2ml) tuỳ vị trí tiêm. Tiêm không quá 3 lần cho mỗi đợt điều trị, mỗi mũi cách nhau 3-4 ngày. Mỗi năm không quá ba đợt.
  • Depo-Medrol (hỗn dịch Methylprednisolon acetat): tác dụng kéo dài do sự phóng thích hoạt chất chậm, liều lượng 0,2 — lml/ mỗi lần (10 — 30mg/ mỗi lần) tuỳ thuộc vị trí, mỗi mũi cách nhau 7 — 10 ngày, không quá hai lần trong một đợt; mỗi đợt cách nhau 3 — 6 tháng; mỗi năm không quá 3 đợt.
  • Diprospan (Betamethasone dipropionate): là loại corticoid tác dụng kéo dài. Liều 0,2 — lml/llần (0,8 — 4 ml/1 lần) tuỳ thuộc vị trí, mỗi mũi cách nhau 7—10 ngày, không quá hai lần trong một đợt, mỗi đợt cách nhau 3-6 tháng, mỗi năm không quá 3 đợt.

Cần lưu ý các chống chỉ định tiêm corticoid tại chỗ: các tổn thương do nhiễm khuẩn, nấm hoặc chưa loại trừ được nhiễm khuẩn; tổn thương nhiễm trùng trên hoặc gần vị trí tiêm, cần thận trọng khi tiêm corticoid tại chỗ: cao huyết áp, đái tháo đường, viêm loét dạ dày tá tràng (phải điều trị và theo dõi trước và sau tiêm); đang dùng thuốic chống đông hoặc có rối loạn đông máu.

Các biến chứng do tiêm corticoid tại chỗ có thể xảy ra gồm: đau sau tiêm vài giờ, có thể kéo dài một vài ngày, nhiễm khuẩn, đứt gân do tiêm vào trong gân, teo da tại chỗ; teo dây thần kinh do tiêm vào trong dây thần kinh, mảng sắc tố’ da: biểu hiện mảng da méo mó, tối màu (tình trạng này sẽ biến mất trong vài tháng đến hai năm).

Tiến triển của các viêm gân

Đa số bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị nội khoa (90 – 95%) song tỷ lệ tái phát còn cao, nhất là đối vối các bệnh nhân không thực hiện các biện pháp phòng bệnh hoặc không loại bỏ được yếu tố nguy cơ gây bệnh. Ví dụ đốì vối viêm lồi cầu ngoài xương cánh tay, tỷ lệ tái phát khoảng 18 – 50% sau 6 tháng; 10% phải phẫu thuật.

  • Điều trị bệnh chính gây viêm gân

Các trường hợp viêm gân, bao gân là triệu chứng của bệnh viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, đái tháo đường… cần phải điều trị đồng thòi và kéo dài các thuốc điều trị bệnh chính cùng với chế độ sinh hoạt phù hợp.

  • Chỉ định điều trị ngoại khoa

Chỉ định phẫu thuật giải phóng phần dây chằng chèn ép hoặc, nạo vét phần bám tận của gân bị viêm nếu điều trị nội khoa thất bại.

  1. Các viêm gân thường gặp
    • Các viêm gân tai

* Viêm bao gân De

Viêm bao gân De Quervain (hội chứng De Quervain) thường gặp nhất trong nhóm bệnh viêm gân vùng cổ tay và bàn tay.

Thường gặp ở nữ, tuổi 30 đến 50 tuổi. Bình thường cơ giạng dài và cơ duỗi ngắn ngón cái trượt dễ dàng trong bao gân ở đường hầm  cô tay. Khi bao gân này bị viêm sẽ sưng phồng lên làm chèn ép lẫn nhau gây đau và hạn chế vận động ngón cái.

Triệu chứng

Sưng đau vùng mỏm trâm quay, đau tăng khi vận động ngón cái, đau liên tục nhất là về đêm. Đau có thể lan ra ngón cái và lan lên cẳng tay. Sờ thấy bao gân dày lên, có khi có nóng, đỏ, ấn vào đau hơn. Khi vận động ngón cái có thể nghe thấy tiếng kêu cót két.

Test Finkelstein: gấp ngón cái vào trong lòng bàn tay. Nắm các ngón tay trùm lên ngón cái. Uốn cổ tay nghiêng về phía trụ. Nếu bệnh nhân thấy đau chói vùng gân giạng dài và gân duỗi ngắn ngón cái hoặc ở gốc ngón cái là triệu chứng của viêm bao gân De Quervain.

Siêu âm có thể thấy bao gân dày lên và có dịch bao quanh.

Chẩn đoán phân biệt

  • Viêm màng hoạt dịch khớp cổ tay: sưng đau toàn bộ cổ tay.
  • Thoái hoá khổp giữa xương thang – đốt bàn một: test Einkelsteins âm tính.

+ Viêm bao hoạt dịch gân cơ duỗi cổ tay quay ngắn và gân cơ duỗi cổ tay quay dài: sưng đau phía trong bao gân De Quervain, đau tăng khi duỗi cổ tay có đối lực, test Einkelstein dương tính nhẹ (khi thực hiện test, bệnh nhân đau ít).

+ Chèn ép nhánh nông thần kinh quay: đau mặt ngoài đầu dưới xương quay, kèm theo tê, rối loạn cảm giác mặt mu các ngón 1, 2, 3 và nửa dọc ngón 4.

Điều trị

Giảm hoặc ngừng vận động cổ tay và ngón tay cái (thường trong 4 — 6 tuần). Trường hợp sưng đau nhiều nên làm băng nẹp cổ tay và ngón cái liên tục 3-6 tuần ở tư thế cổ tay để tự nhiên, ngón cái giạng 45° so với trục xương quay và gấp 10°.

Chườm lạnh, thuốc giảm đau, thuốc chống viêm không steroid (uống, bôi tại chỗ). Tiêm corticoid trong bao gân De Quervain

Thuốc: Hydrocortison acetat liều 0,3 – 0,5 ml / mỗi lần/ 3 lần mỗi đợt điều trị hoặc Depo—Medrol 0,3 — 0,5 ml một lần tiêm duy nhất.

Kỹ thuật tiêm bao gân De Quervain

  • Kỹ thuật tiêm: điểm tiêm tại mỏm trăm quay hướng dọc lên trên, kim gần như tiếp tuyến với mặt da, mục đích là tiêm thuốc vào trong bao gân De Quervai

* Ngón tay lò xo (bao gân gấp ngón tay)

Ngón tay lò xo

Nguyên nhân: do tình trạng viêm gân, bao gân gấp ngón tay gây phì đại và quá sản sụn sợi ở bề mặt tiếp xúc của gân và bao gân (chủ yếu tại vị trí đầu gần của ròng rọc Al) làm cho bao gân dày lên, hình thành cục xơ ở gân, làm chít hẹp đường hầm của gân. Sự chít hẹp này làm gân di chuyển qua ròng rọc sẽ khó khăn, và cuối cùng bị kẹt lại khiến ngón tay không cử động được. Do lực duỗi ngón tay thường không thắng được phần tắc nghẽn này nên ngón tay thường ỏ tư thế gấp. Nếu cố duỗi hoặc duỗi thụ động thì sẽ thấy tiếng “bật” khi cục xơ vượt qua chỗ hẹp và ngón tay được duỗi ra như kiểu ngón tay có lò xo.

Triệu chứng lâm sàng: đau gốíc ngón tay tại vị trí bao gân bị viêm và tại cục xơ; khó cử động ngón tay. Triệu chứng này nặng hơn vào buổi sáng và cải thiện hơn vào ban ngày. Bệnh nhân cảm giác được tiếng “bật” ở gân khi gấp hoặc duỗi ngón tay. Ngón tay có thể bị kẹt ỏ tư thế gập vào lòng bàn tay hoặc duỗi thẳng. Ngón tay có thể có sưng; sờ dọc gân gấp có thể thấy cục xơ nhỏ dọc trên gân gấp ngón tay. Thường sờ thấy cục xơ ở vị trí khớp đốt bàn ngón tay (vùng ròng rọc Al). Cục xơ di động khi gấp, duỗi ngón tay. Chụp Xquang bàn tay bình thường. Hình ảnh Xquang chỉ có giá trị phân biệt với các tổn thương viêm khớp bàn ngón tay.

Chẩn đoán phân biệt: cần chẩn đoán phân biệt với bệnh co cứng Dupuytren giai đoạn sớm thường gặp nhất là co cứng tại ngón 4, sau đó đến các ngón 5, 3 và 2. Thường bị cả hai tay do xơ hoá dải cân bàn tay. Cũng phải phân biệt với viêm khớp bàn ngón tay: đau vùng gốc ngón tay nhưng không có hiện tượng ngón lò xo.

Điều trị: giảm vận động ngón tay có gân tổn thương, nẹp duỗi ngón tay về đêm để tránh đau do co quắp ngón tay khi ngủ.

Thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau. Tiêm corticoid tại chỗ.

Kỹ thuật: hướng mũi kim 30° theo hướng vào gân gấp (đầu gần vùng ròng rọc Al). Hút kiểm tra không có máu, bơm vào nhẹ tay thì bơm thuốc vào từ từ. Trong khi tiêm thuốc, cho bệnh nhân gấp, duỗi ngón tay nhẹ, nếu kim tiêm di động cùng với ngón tay tức là kim đã cắm vào gân, khi đó phải rút nhẹ trở lại 1 – 2 mm để tránh corticoid ngón tay lò xo tiêm vào trong gân. 

Nguyên nhân: do thoái hoá dạng nhầy của tổ chức liên kết bao khớp. Thường ở cổ tay, phía mu tay tự nhiên xuất hiện một khối sưng dần, tròn, cố định, không đau. Có thể tự biến mất.

Điều trị: hút dịch, tiêm corticoid tại chỗ. Với điều trị nội khoa, ít khi kén biến mất hoàn toàn. Ngoại khoa giúp điều trị triệt để.

* Hội chứng đường hầm cổ tay

Nguyên nhân: do dây thần kinh giữa bị chèn ép ở cổ tay.

Triệu chứng lâm sàng và các test chẩn đoán

Triệu chứng thường xuất hiện từ từ, lúc đầu các triệu chứng xuất hiện không thường xuyên, về sau thường kéo dài, liên tục.

Rối loạn cảm giác vùng thần kinh giữa chi phối làm bệnh nhân thấy tê và đau buốt ỏ đầu các ngón tay cái và ngón hai, ba. Tê và đau nhức phía gan tay, thường đau liên tục và tăng lên về đêm và khi làm các động tác duỗi cổ tay. Bệnh nhân thường thấy khó cài khuy áo, khó cầm nắm các vật và dễ đánh rơi.

Khám: tại vùng cổ tay có thể thấy sưng nhẹ so với bên lành. Một số nghiệm pháp tăng sức ép vào vùng đưòng hầm có giá trị chẩn đoán.

Hội chứng đường hầm cổ tay Thần kinh giữa bị chèn ép

  • Dấu hiệu Tinel: duỗi bàn tay hết cỡ, dùng búa gõ phản xạ gõ vào vùng cổ tay làm xuất hiện cảm giác tê và đau các ngón 1, 2, 3 và dọc 1/2 ngón 4 do đây là vùng thần kinh giữa chi phối.
  • Dùng dây ga rô thắt chặt phần trên cẳng tay, sau vài giây, xuất hiện cảm giác đau và tê như trên.
  • Nghiệm pháp gọng kìm ngón cái và ngón trỏ thấy cơ lực giảm so với bên lành.

Một số trường hợp nặng hoặc viêm kéo dài sẽ teo cơ mô cái, giảm cảm giác nông ở các ngón 1, 2, 3 và nửa ngón 4.

Điện cơ: có sự dẫn truyền bất thường của thần kinh giữa ở đoạn cẳng tay. Điện cơ giúp phân biệt với hội chứng rễ — dây thần kinh cột sống cổ, hội chứng đám rối thần kinh cánh tay.

Siêu âm với đầu dò tần sô’ cao thấy có dày bao gân và dịch tụ quanh bao gân trong đường hầm cổ tay.

Điều trị hội chứng đường hầm cổ tay

Giảm vận động cổ tay bàn tay. Nếu bệnh nhân đau nhiều, cần dùng máng nẹp để cố định cổ tay ở tư thế tự nhiên, thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau.Kỹ thuật tiêm corticoid diều trị hội chứng đường hẩm cổ tay

  • Tiêm corticoid tại vị trí đường hầm Thuốc: Hydrocortison acetat: 20 — 30

mg/1 lần hoặc Depo-Medrol: 20 — 30 mg/lần hoặc Diprospan: 2 — 3 mg/ lần.

  • Kỹ thuật tiêm: vị trí tiêm tại nếp gấp cổ tay, phía ngoài gân cơ gan tay dài. Chọc kim góc 30° hướng tới ngón 4 sâu

khoảng 3cm. Nếu chọc kim gặp cản trở hoặc bệnh nhân thấy tê các ngón 1, 2, 3 thì rút nhẹ kim trở lại và hướng kim thêm về phía trụ. Hút kiểm tra không có máu, bơm thuốíc từ từ vào đường hầm.

  • Điều trị ngoại khoa: chỉ định phẫu thuật giải phóng chèn ép bằng cách cắt đứt mạc giữ gân gấp khi điều trị nội khoa thất bại.

* Bệnh Dupuytren

Nguyên nhăn: do xơ co thắt bao gân gan tay nông.

Triệu chứng: thường khu trú ỏ ngón tay 4-5.

Khởi đầu là hạn chế vận động bàn tay, hoặc thấy một hạt ở gan tay. Hạt này ở bề mặt da, cứng, cô” định ở bao gân. Tiến triển có thể nhanh hoặc chậm, tùy trường hợp. Sự xuất hiện những dải bao gân, làm cho các ngón tay co ở tư thê gấp không duỗi được.

Điều trị: tránh tác động vào dải xơ: tránh day, tránh cọ xát. Tiêm corticoid ít hiệu quả.

Trường hợp hạn chế chức năng nhiều: phẫu thuật cắt bỏ dải xơ.

  • Viêm gân tại khuỷu tay
  • Khuỷu tay của người chơi tennis (Tennis elbow)

Nguyên nhân: do viêm các gân cơ bám tận tại lồi cầu ngoài xương cánh tay, còn gọi là viêm lồi cầu xương cánh tay. Thường gặp ở người chơi thể thao như tennis, golf, bóng bàn…

Triệu chứng và chẩn đoán

  • Đau khu trú ở vùng mặt ngoài khuỷu tay, có khi đau lan lên trên và xuống dưới; đau tăng khi làm các động tác xoay cẳng tay, gấp duỗi ngón tay, nắm chặt tay, đau có thể tăng vào buổi chiều tối. Đau có thể làm giảm sức nắm của bàn tay.
  • Khám ít khi thấy sưng, nóng, đỏ; ấn vào lồi cầu ngoài đau tăng lên hoặc xuất hiện cảm giác đau chói. Khám cơ lực nắm tay hai bên có thể thấy giảm sức nắm bên tổn thương. Vận động khỗp khuỷ tay bình thường.
  • Test Cozens

Thầy thuốc dùng một tay đặt ngón cái lên lồi cầu ngoài xương cánh tay của bệnh nhân, giữ khuỷu tay bệnh nhân ở tư thế gấp 90° và úp sấp cẳng tay; tay còn lại nắm bàn tay bệnh nhân. Bệnh nhân sẽ thấy đau chói tại lồi cầu ngoài khi bệnh nhân duỗi cổ tay có đốì lực bởi bác sĩ.

Hoặc thầy thuốc duỗi thẳng khuỷu tay bệnh nhân, úp sấp cẳng tay, gấp và xoay cổ tay bệnh nhân ra ngoài sẽ gây đau tại lồi cầu ngoài xương cánh tay.

  • Xquang quy ước khớp khuỷu đôi khi phát hiện calci hoá các đầu gân bám quanh lồi cầu.

Điều trị

  • Giảm hoặc ngừng vận động cẳng tay (thường 4-6 tuần).
  • Chườm lạnh 2-3 lần/ngày nếu sưng đau nhiều, mỗi lần 20 – 30 phút.
  • Thuốc giảm đau, thuốc chống viêm không steroid (đường uống, bôi tại chỗ).
  • Tiêm corticoid tại lồi cầu ngoài xương cánh tay.
  • Loại thuốc: Hydrocortison acetat hoặc Depo—Medrol hoặc Diprospan. Lượng thuốc không quá 0,2 — 0,3 ml.
  • Kỹ thuật tiêm: để khuỷu tay bệnh nhân gấp 45°, cổ tay sấp. Đưa kim vuông góc vối nền xương lồi cầu ngoài tới khi chạm xương, rút ngược kim trở lại 1 — 2 mm, hút kiểm tra không có máu thì bơm thuốc chậm đều vào trong lồi cầu.

Kỹ thuật tiêm viêm lồi cầu ngoài xương cánh tay

* Một sô’trường hợp đau tại các lồi cầu khác

  • Thưồng gặp viêm vùng gân của chỗ bám tận (viêm gân — màng xương): đau tại vùng lồi cầu trong xương cánh tay. Viêm lồi cầu trong xương cánh tay ít gặp hơn 8-10 lần so với viêm lồi cầu ngoài xương cánh tay. Biểu hiện bởi đau tại vùng lồi cầu trong, có thể có sưng, nóng đỏ; đau tăng khi gấp cổ tay hoặc lật sấp cẳng tay có đối lực, ấn lồi cầu trong đau chói.
  • Ngoài ra, tại khuỷu tay còn có một số viêm gân và kén thanh dịch khác, song hiếm gặp hơn.
    • Các viêm gân tai gối

* Bệnh Osgood—Schlater (viêm lồi củ xương chày)

Nguyên nhân: là hậu quả của sự bong nhẹ hoặc đứt một phần dây chằng bánh chè I ở vùng bám của lồi củ xương chày.

Triệu chứng và chẩn đoán:

  • Thưồng gặp ở các trẻ trai 10 — 15 tuổi.
  • Trẻ đau tại vùng lồi củ trước xương

chày, tăng khi bước hoặc khi chạy.                   ___

  • Tại vùng lồi củ xương chày sưng, đôi khi có nóng. Chính triệu chứng sưng tại chỗ này khiến nhiều trẻ bị chẩn đoán nhầm là ung thư xương chày.
  • Xquang quy ước: cấu trúc của lồi củ xương chày trước không đều, có thể có vài đảo xương riêng biệt. Chính hình ảnh các mảnh xương nhỏ tại lồi củ xương chày dường như bị bong ra là nguyên nhân khiến nhiều trẻ em bị chẩn đoán nhầm là ung thư xương chày, gây hoang mang cho gia đình và bệnh nhi.
  • Viêm gân cơ duỗi khớp gối

Viêm gân cơ tứ đầu và gân bánh chè. Sờ thấy điểm đau khu trú hoặc ỏ trên thân của gân, hoặc trên chỗ bám tận của gân (trên xương bánh chè đối vối gân bánh chè, trên lồi củ trước trên xương chày).

  • Viêm gân chân ngỗng
  • Giải phẫu: gân chân ngỗng tạo bởi gân cơ may, cơ thon, cơ bám gân; bám tận ở lồi cầu trong xương chày. Quanh các gân này có các túi hoạt dịch nhỏ.

Triệu chứng

  • Đau vùng lồi cầu trong xương chày, đau có thể lan ra xung quanh, có thể kèm theo sưng nóng, đỏ. Đau tăng khi leo cầu thang, khi co hoặc duỗi chân hết cỡ.
  • Ân có điểm đau chói ở dưới bò trong khe khốp gối 3 — 5cm. Có khi trên lâm sàng khó phân biệt với viêm bao hoạt dịch và hội chứng dây chằng bên chày của khớp gối.
  • Đôi khi chẩn đoán chính xác cần sự hỗ trợ của siêu âm và cộng hưởng từ khớp gối.

Điều trị: chủ yếu là giảm vận động, thuốc chống viêm không steroid. Nếu không có hiệu quả, có thể tiêm corticoid tại điểm đau (lượng thuốc không quá 0,2 — 0,3 ml).

  • Viêm gân bánh chè

Triệu chứng: chủ yếu là đau vùng cực dưới xương bánh chè, đau tăng khi vận động, đặc biệt là khi leo cầu thang, chạy, nhảy…

Điều trị: hầu hết các trường hợp đáp ứng vối nghỉ ngơi và thuốc chống viêm không steroid. Trường hợp ngược lại, tiêm corticoid (0,2 – 0,3 ml) vào điểm đau. Đôi khi phải phẫu thuật cắt bỏ phần viêm.

  • Kén khoeo chân

Nguyên nhăn: do viêm túi thanh mạc, thường được gọi là kén Baker, khi túi thanh mạc sinh lý của hõm khoeo bị thông với khoang khớp.

Triệu chứng và chẩn đoán: kén khoeo chân thưòng xuất hiện trên một khớp gối bệnh lý (Thường gặp nhất là trong đợt viêm khớp dạng thấp hoặc thoái hoá khớp gối). Kén có thể di chuyển xuống phía sâu, ở sau các cơ sinh đôi ở bắp chân. Đôi khi, kén gây các hiện tượng chèn ép tĩnh mạch, hoặc hiện tượng viêm khi bị vỡ kén. Biểu hiện bằng một khối sưng ở phía khoeo chân, căng. Có thể không đau, thường gây hạn chế vận động khớp gối. Khi kén bị vỡ: bệnh nhân đau dữ dội và đột ngột ở bắp chân, khi ấn vào rất căng và đau. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, siêu âm, chụp khớp cản quang, đặc biệt là chọc dò có dịch khớp tại kén.

Kén khoeo chân Baker:Chụp khớp gối cản quang: có sự thông thương giữa phần trước và sau khớp gối quan sát phía khoeo

  • Các viêm gân khác

Các viêm gân dưới đây ít gặp hơn. Việc điều trị cũng tương tự các viêm gân đã nêu ở trên.

  • Viêm gân ở bàn chân: thường gặp những gân bám tận trên xương gót.
  • Viêm gân Achille: biểu hiện bằng đau cơ học vùng sau gót chân, xuất hiện khi bước; có điểm đau chói khi ấn vào gân. Thường hay tái phát, luôn có nguy cơ đứt từng phần hoặc hoàn toàn.
  • Viêm cân gan chân (hoặc “gai xương gót”): viêm cân hoặc bao gân bám tận tại vùng gan chân của xương gót. Biểu hiện bằng đau gót chỉ khi bị tỳ đè, khi ấn vào vùng sau— trong của gót. Chụp Xquang xương gót có thể có hình ảnh gai xương, do xơ hoá các điểm bám tận của gân gan chân. Tuy nhiên, nếu sử dụng danh từ “gai xương gót” sẽ khiến bệnh nhân sỢ hãi. Gai sẽ tồn tại, song không phải lúc nào bệnh nhân cũng đau.
  • Bệnh Haglund: do sự cọ sát giữa giầy dép và xương gót gây nên. Biểu hiện bằng đau phía sau gót, gặp chủ yếu ở phụ nữ trẻ tuổi làm bệnh nhân khó đi giày. Đôi khi có kèm phì đại lồi củ sau xương gót.
  • Viêm quanh khổp háng: ít gặp hơn. Thường có ba thể sau:

+ Viêm gân chậu — mấu chuyển ở háng: ấn điểm bám tận có điểm đau chói.

+ Viêm gân các cơ khép: biểu hiện bằng đau khớp mu, xuất hiện khi khép đùi có đối kháng.

+ Háng lò xo: bệnh nhân cảm giác có tiếng kêu lắc rắc khi bước ở vùng mấu chuyển lớn. Do gân cơ trượt trên xương.

bệnh thoái hóa đốt sống cổ

đau cột sống giữa lưng

viêm khớp ngón tay