Các dạng của bệnh viêm khớp

30/10/2016 10:43

Phần lớn bệnh nhân viêm khớp rơi vào một trong hai dạng sau: viêm xương khớp, hoặc thấp khớp.

Viêm xương khớp

Viêm xương khớp đồi khi còn gọi là “viêm khớp thoái hóa, bệnh khớp thoái hóa hay thoái hóa khớp” chiếm hơn một nửa loại viêm khớp. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ khớp nào và đối tượng thường là phụ nữ. Đầu tiên nó có khuynh hướng gây tổn thương ở một khớp. Nhưng nếu các ngón tay của bạn bị đau thì nhiều khớp ở bàn tay có thể bị viêm khớp.

Trong bệnh viêm xương khớp, bệnh lý liên quan đến phần sụn là phần đệm cho các đầu xương trong khớp của bạn. Theo thời gian, mặt sau sẽ bị phá hủy bào mòn dần và bề mặt trơn láng trở nên thô ráp xù xì. Do đó nếu lớp sụn bị mòn đi hoàn toàn, bạn sẽ cảm nhận được xương tiếp xúc trực tiếp với xương làm hư hỏng các đầu xương và tạo nên cảm giác đau.

Một vài nhà khoa học tin chắc rằng lớp sụn bị hư hỏng do mất cân bằng giữa các men sinh ra từ tế bào sụn hoặc từ bao hoạt dịch. Khi có sự cân bằng, các men này cho phép tái sinh lại phần sụn đã bị bào mòn tự nhiên. Tuy nhiên có quá nhiều loại men có thể gây bào mòn sụn khớp nhanh hơn là quá trình tái tạo và nguyên nhân chính xác gây mất cân bằng các men đến nay vẫn chưa tìm ra.

Cơ thể bạn phải luôn khắc phục những thương tổn, nhưng đồi khi vẫn không đủ nên dẫn đến sự tăng sinh của xương mới ở những vị trí kích thích tạo thành những chồi xương thường gặp nhất ở tay và chân. Mỗi bước trong giai đoạn tự sửa chữa này sẽ gây đau. Đau và ấn đau ở các chồi xương có thể là dấu hiệu sớm nhất trong đợt tiến triển bệnh và ít rõ ở giai đoạn sau đó.

Nếu là người cao tuổi có thể bạn đã kinh qua một vài lần đau khớp do bệnh viêm xương khớp ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi. Viêm xương khớp thường xuất hiện sau 45 tuổi. Ở người trẻ tuổi, không bị thương tổn khớp, thì bệnh viêm xương khớp tương đôi hiếm. Những trường hợp cá biệt bị ảnh hưởng thường có tiền sử gia đình viêm xương khớp.

Mặc dù với kiểu sống thích hoạt động có thể làm chậm quá trình tiến triển bệnh, hầu hết những người trên 60

ỉi đều có triệu chứng nhẹ ở vùng cổ hay cột sông. Nhiều _JỜÍ ở lứa tuổi trung niên bị viêm xương khớp nhưng không biết cho đến lúc thầy thuốc phát hiện trên phim quang khi kiểm tra định kỳ.

Nếu bị viêm xương khớp, bạn sẽ có những triệu chứng

 Đau khớp trong lúc hoạt động hoặc sau đó.

  • Cảm giác khó chịu trong khớp trước hoặc khi thay đổi thời tiết.
  • Sưng nề và cứng khớp, đặc biệt là sau khi vận động.
  • Các chồi xương của khớp giữa hay khớp ngoài cùng ở các ngón tay hoặc ở gốc ngón cái.

chua benh khop bang thuoc nam

bệnh khớp nên ăn gì

thuoc nam tri gai cot song

 Mất khả năng gấp khớp.

Viêm xương khớp thường xảy ra ở cổ hay lưng. Các a đệm giữa đốt sông cũng có cấu tạo là tổ chức sụn. ống như sụn khớp, các đĩa đệm cùng bị bào mòn làm o khe liên đô’t sống hẹp lại. Xương phát triển ra ngoài phát ở bất kỳ thời điểm nào, nhưng thường gặp nhất vào lứa tuổi từ 20-50.

Thấp khớp có thể là một bệnh tự miễn, tức là hệ thông miễn dịch của bạn tự chông lại bạn. Các nghiên cứu cho thấy rằng một sô’ tác nhân không xác định rõ, có thể là virus hay một loại vi khuẩn đã kích thích hệ thông miễn dịch tấn công vào các tác nhân xâm nhập. Trong những bệnh tự miễn, các tế bào nhận dạng nhầm lần tác nhân xâm nhập và dẫn đến hậu quả hệ thông miễn dịch tấn công khớp của bạn.

Các vùng thường bị tấn công trong bệnh thấp khớp chủ yếu là lớp bao hoạt dịch của khớp. Khi bạn bị thấp khớp, bạch cầu với nhiệm vụ tấn công các tác nhân xâm nhập ngoài ý muốn sẽ đi từ máu vào màng hoạt dịch. Tại đó, tế bào bạch cầu gây ra phản ứng viêm màng hoạt dịch.

Viêm gây dày màng hoạt dịch và giải phóng những chất hóa học từ các tế bào màng hoạt dịch và tế bào máu đã xâm nhập vào màng hoạt dịch. Nếu tình trạng viêm vẫn tiếp diễn dai dẳng, các chất hóa học được phóng thích sẽ ăn mòn lớp sụn, xương, gân và dây chằng của khớp. Dần dần, khớp bị biến dạng và không còn thẳng trục nữa. Các dây chằng, cơ và xương cũng yếu đi gây lỏng lẻo khớp. Cuổì cùng, khớp bị phá hủy.

Thấp khớp thường hay gây tàn phế hơn viêm xương khớp. Đau, biến dạng khớp có thể gây mất vận động và mất tính vững chắc của khớp. Khớp sẽ sưng nề, đau và nỏng trong giai đoạn tấn công ban đầu và trong giai đoạn tấn công bùng phát của bệnh.

Các triệu chứng của thấp khớp gồm:

  • Đau và sưng nề ở các khớp nhỏ thuộc bàn tay và bàn chân.

» Cứng khớp và cơ, đặc biệt sau khi ngủ dậy hoặc sau một lủc nghỉ ngơi.

  • Mất vận động các khớp bị viêm.
  • Không thể kéo giãn các cơ bám tận khớp viêm.

» Biến dạng khớp sau một thời gian.

  • Mệt mỏi (trầm trọng trong giai đoạn bộc phát).

Ngay cả trong những đợt nặng nề nhât của thấp khớp, bạn vẫn giữ được động tác gấp khớp. Có thể bạn thấy ít đau khi các khớp bị biến dạng.

Các khớp thường bị đau là khớp cổ tay, bàn tay, bàn chân và cổ chân. Ngoài ra khớp khuỷu, khớp vai, khớp háng, khớp gổì, cột sông cổ và khớp hàm cũng có khả năng mắc bệnh. Các khớp xương thường đau đôi xứng cùng lúc ví dụ như viêm khớp bàn ngón ở cả hai tay. Trong đó khớp bàn tay và bàn chân là hay gặp nhất.

Ngoài ra còn có một số triệu chứng ngoài khớp đối với bệnh thấp khớp. Ngược với bệnh viêm xương khớp chỉ ảnh hưởng đến xương và cơ, thì bệnh thấp khớp có thể ảnh hưởng đến toàn cơ thể bao gồm các cơ quan như tim, mạch máu, phổi và mắt. Bệnh có thể xuất hiện cùng lúc ở khớp, khác với bệnh viêm xương khớp thường chỉ đau ở một khóp hoặc vài khớp.

Các hạt nhỏ gọi là hạt thấp nằm dưới da của vùng khuỷu, bàn tay, và phía sau da đầu hay đầu gối, dưới ngón chân của bạn. Những hạt này có kích thước thay đổi từ hạt đậu cho đến hạt hồ đào. Thường thì chúng khống đau.

Nếu bạn thấy khó chịu và sưng ở nhiều khớp đối xứng cả hai bên cơ thể, bác sĩ của bạn sẽ khám cho bạn và làm các xét nghiệm cận lâm sàng, xét nghiệm tốc độ lắng máu, sau đó sẽ cho biết bạn đang ở trong tình trạng viêm. Tỉ lệ này vốn bất thường trong bệnh thấp khớp và có xu hướng bình thường trong bệnh viêm xương khớp. Một xét nghiệm máu khác nhằm tìm kiếm các kháng thể có tên gọi là yếu tô’ thấp. 4/5 bệnh nhân bị thấp khớp có kháng thể bất thường này và chúng lại không được tìm thấy trong máu của bệnh nhân bị viêm xương khớp. Có những thay đổi điển hình trên phim X-quang trong mỗi trường hợp giúp phân biệt bệnh viêm xương khớp và bệnh thấp khớp.

Trên các phim X-quang có thể đánh giá được tiến triển của bệnh viêm khớp theo thời gian.

 

Thông thường, thấp khớp là bệnh mãn tính, dù rằng có thể nặng nhẹ hay cách bộc phát và thoái bệnh có khác nhau. Các giai đoạn bệnh tiến triển mạnh gọi là giai đoạn bộc phát của bệnh, khác với giai đoạn bệnh thoái lui. Các triệu chứng sưng nề, đau, khó ngủ giảm dần đi hay biến mất.

Vào lần chẩn đoán đầu tiên, không thể nói trước được mức độ thực sự của bệnh thấp khớp. Nhưng nếu bạn đã có các triệu chứng lâm sàng kéo dài 4-5 năm có thể gây biến đổi cuộc sông của bạn. Khám kỹ các khớp và làm xét nghiệm định kỳ (như tôc độ lắng máu) giúp theo dõi bệnh thấp khớp của bạn. Sau 10-20 năm có các triệu chứng viêm cùng với sưng nề các khớp đặc hiệu, bệnh có thể ổn định nhưng khớp bị biến dạng và triệu chứng đau đôi khi vẫn tiếp diễn. Tính chu kỳ của bệnh thấp khớp là một câu hỏi khó trả lời. Sự bộc phát và thoái bệnh có thể xảy ra bởi những lý do không rõ ràng khiến người ta tìm kiếm, tin tưởng và điều trị theo những yếu tô’ đáng nghi ngờ.

Bệnh thấp khởp không thể điều trị lành hoàn toàn nhưng bằng những biện pháp điều trị riêng, chiến thuật bảo vệ khớp và thay đổi cách sống, hầu hết mọi người đều sông lâu, sống hữu ích sau khi bệnh viêm khớp của họ tiến triển. Cũng như bệnh viêm xưong khớp, tự chăm sóc mình và điều trị thực thụ vẫn là chủ yếu. Kế hoạch điều trị cho mỗi người do bác sĩ của bạn và các tổ chức sức khỏe đưa ra nhằm giảm thiểu nguy cơ của bệnh tác động lên cách sống của bạn.