Bệnh xơ cứng bì toàn thể

5/03/2018 10:20
  1. Đại cương bệnh xơ cứng bì toàn thể

Xơ cứng bì toàn thể (Systemic Sclerosis) còn gọi là xơ cứng bì hệ thông, xơ cứng bì tiến triển) là một trong số bệnh nặng nhất của tổ chức liên kết, tỷ lệ thấp hơn lupus ban đỏ hệ thống. Dưòng như bệnh được biết từ thời Hippocrate. Những trường hợp bệnh lý đầu tiên được Curzio mô tả vào năm 1753, và B.E. Gintrac là người đầu tiên đề nghị thuật ngữ xơ cứng bì toàn thể. Bệnh tổn thương nhiều cơ quan đặc trưng bởi tình trạng xơ hoá da và tổ chức dưới da (biểu hiện bởi hiện tượng dày da) và các bất thường về mạch máu (gây tổn thương nội tạng). Ngoài tổn thương ở da, các tạng thường gặp nhất là thận và phổi. Tổn thương da lan toả xuống các phần của gốc chi (như khuỷu, gốĩ) và thân. Thể bệnh khu trú (limited disease) là các thể có xơ da ỏ ngọn chi, một vài vùng ỏ mặt, cổ; trong đó có hội chứng CREST (xem thêm ở phần dưới đây).

Nguyên nhân gây bệnh còn chưa rõ, có thể có vai trò của một sô” yếu tô” như thay đổi chuyển hoá collagen, các bất thường về mạch máu, miễn dịch và rô”i loạn nhiễm sắc thể. Biến đổi chủ yếu ở da là sự tích luỹ collagen và xơ. Thêm vào đó là các tổn thương mạch máu nhỏ và vừa với các bằng chứng biến đổi xơ do nguồn gốc miễn dịch. Yếu tô” môi trường có vai trò khởi phát quá trình bệnh.

Tiên lượng bệnh khó dự đoán, có thể tử vong đột ngột do tổn thương cơ tim. Dường như tỷ lệ bệnh nặng ở phụ nữ da đen cao hơn da trắng. Tỷ lệ bệnh ỏ Mỹ cao hơn hẳn ở châu Âu và châu Á, nguyên nhân chưa rõ.

Xơ cứng bì là một bệnh hiếm gặp. Tỷ lệ mối mắc không vượt quá ba trường hợp mới mắc mỗi năm trên 100.000 dân. Bệnh thường gặp ở nữ (75 — 80%), khoảng 30 — 50 tuổi, tần sô” mắc bệnh khoảng 10 — 20 trường hợp mới mắc trên một triệu dân hàng năm. Hiện chưa có thuốc điều trị thật hiệu quả bệnh này.

2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinìh xơ cứng bì toàn thể

Với thuật ngữ xơ cứng bì – sclerodermia (theo tiếng Hy lạp, scleros tức là xơ cứng) được định nghĩa ở hai mức độ sau:

  • Về đại thể: đó là sự không co giãn được của da.
  • Về vi thể: là sự kết đặc các sợi collagen của da.

Trên thực tê”, xơ cứng bì được dùng để chỉ một sô” bệnh khác nhau có đặc điểm là da không co giãn khu trú hoặc lan toả, có các biểu hiện khác ngoài da hay không. Trong khi đó, về tổ chức học, xơ cứng bì nói chung không đơn độc chỉ có triệu chứng cứng ở da mà còn có hiện tượng teo da kèm theo các rô”i loạn ở mao mạch, do đó có kèm theo ít hoặc nhiều biểu hiện nội tạng ở mức độ tiến triển. Đó là một bệnh trong nhóm bệnh tạo keo (collagenose). Theo quan điểm hiện nay, với tên gọi xơ cứng bì toàn thể, người ta đã loại trừ các bệnh có biểu hiện da đơn thuần hoặc giả xơ cứng bì trong một số” tình trạng bệnh lý khác.

Mặc dù bệnh được biết từ thòi Hippocrate, xơ cứng bì có những giai đoạn phân lập các triệu chứng của bệnh. Những trường hợp bệnh lý da đầu tiên được Curzio mô tả vào năm 1753, và B.E. Gintrac là người đầu tiên đề nghị thuật ngữ xơ cứng bì. Các tổn thương nội tạng ngoài triệu chứng da khởi đầu được mô tả bởi Harley 1878, Von Notthaff 1898, Schmidt 1916 tại các quốc gia khác nhau. Năm 1941, Klemperer và Tuíanelli đã đưa ra khái niệm bệnh hệ thống. Thời kỳ này, bệnh đã được biết đến thể hệ thống trong khung cảnh bệnh collagenose. Trong các thập kỷ 50, tính chất tự miễn của bệnh đã được chứng minh và các thể bệnh đã được phân lập. Kháng thể kháng nhân được tìm thấy, trong đó có các kháng thể kháng nhân đặc hiệu cho bệnh xơ cứng bì toàn thể (Anti-Scl—70) và các thể đặc biệt của bệnh như hội chứng CREST (Anti—centromère: kháng thể kháng dây tơ), cũng như các thể bệnh mô liên kết kết hợp (Anti-Pm, Anti-J01, Anti-KU…), vai trò của kháng nguyên phù hợp tổ chức cũng được đề cập đến.

Cho đến hiện nay, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh xơ cứng bì còn chưa được rõ. Cơ chê bệnh sinh chính xảy ra ở các cơ quan tổn thương là tổn thương vi mạch và xơ kèm theo sự tích lũy quá mức các chất ngoại bào, đặc biệt là collagen. Hiện nay còn chưa được biết rõ liệu có phải tổn thương nội mạc là quá trình đầu tiên gây nên thiếu máu cục bộ và quá trình xơ hoá thứ phát hay không hoặc là xơ hoá lan tỏa dẫn đến tổn thương mạch máu. Mới đây, vai trò của sự mất điều hoà tự động trong cơ chế bệnh sinh của bệnh đã được chú ý.Viêm dường như đóng vai trò đầu tiên của quá trình khỏi phát bệnh và thâm nhiễm nguyên phát quanh mạch máu các tế bào T đã được phát hiện ở da, đặc biệt ở ranh giới giữa tổ chức lưới của da và mổ. Có bằng chứng về sự tổn thương của tế bào nội mô và hoạt hoá tiểu cầu. Các cytokin, bao gồm các yếu tố phát triển chuyển dạng (transfroming growth factor—beta, interleukin 1 (IL—1), IL—2, các yếu tố phát triển có nguồn gốc từ tiểu cầu (plaquet- derived growth íactor), có vai trò trong sự mất điều hoà tế bào xơ và sản xuất quá mức collagen. Các nguyên tố hoạt hoá mạch tác động tại chỗ, bao gồm endothelin (chất co mạch) và nitro oxid (chất giãn mạch) có thể đóng một vai trò trong quá trình bệnh lý và là đích của can thiệp điều trị trong tương lai.

Các tự kháng thể có thể phát hiện được ở 95% sô” bệnh nhân xơ cứng bì toàn thể mặc dù vai trò của chúng trong cơ chế bệnh sinh còn chưa được xác định. Chúng có thể là hiện tượng bên ngoài của hiện tượng hoạt hoá hệ thống miễn dịch và tổn thương tổ chức. Gợi ý vai trò đốì với các tế bào miễn dịch do có môi liên quan giữa sự tăng IL—2 và tăng sô” lượng cơ quan thụ cảm hoà tan của IL-2 với hoạt tính của bệnh, sự tương đồng về lâm sàng và bệnh sinh giữa xơ cứng bì và bệnh lý mảnh ghép chống lại chủ. Trên phương diện này, các thăm dò có các tế bào khảm đã được thấy ở phụ nữ xơ cứng bì, sự giữ lại các tê bào bào thai ở da và ở máu ngoại biên của các phụ nữ mắc bệnh xơ cứng bì toàn thể. Điều này gợi ý phản ứng loại bệnh lý mảnh ghép chống lại chủ gây ra bởi sự tồn tại của tê bào bào thai, có thể đóng vai trò trong cơ chế bệnh sinh của bệnh xơ cứng bì ở một vài bệnh nhân.

Yếu tô” môi trường có vai trò khởi phát quá trình bệnh. Phản ứng viêm dưòng như đóng vai trò sốm trong bệnh và thâm nhiễm viêm quanh mạch.

Có một sô” cơ chê” sau đây đã được đề nghị: thay đổi chuyển hoá collagen, các bất thường về mạch máu, miễn dịch và nhiễm sắc thể. Các cơ chê” chính được biểu diễn ở sơ đồ dưới đây:

dau nhuc xuong khop uong thuoc gi

benh dau that lung

gai cot song nen an gi