Bệnh lý phần mềm quanh khớp

11/10/2016 03:03

Đại cương

Bệnh lý phần mềm quanh khớp (Soft tissue rheumatic disorders, Soft tissue disorder) là loại bệnh lý của các cấu trúc cạnh khớp bao gồm các tổn thương tại chỗ của gân, bao gân, dây chằng, túi thanh dịch; điển hình là viêm quanh khớp vai. Tỷ lệ viêm quanh khớp vai chiếm 13,24% sô” bệnh nhân điều trị tại khoa Cơ Xương Khớp Bệnh viện Bạch Mai theo thông kê 1991-2000. Tiếp đó là viêm gân, bao gân vùng vai, khuỷu tay, cổ bàn tay, gối và quanh mắt cá. Theo Mc Cormack và cộng sự (1990) trong sô” 2261 công nhân ngành dệt ở Mỹ có 11,6% mắc bệnh lý viêm gân, bao gân. Viêm lồi cầu ngoài xương cánh tay là thể hay gặp nhất ở vùng khuỷu tay, gặp ở 1 — 3% dân số và thường ở độ tuổi 40 đến 60 tuổi. Bệnh lý phần mềm quanh khớp có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi song gặp chủ yếu ở những người trung niên hoặc lớn tuổi. Bệnh không gây quá đau đớn hoặc mất chức năng vận động như nhiều bệnh lý xương khớp khác, song gây khó chịu và hoang mang cho nhiều bệnh nhân. Căn nguyên gây bệnh lý phần mềm quanh khớp thường khó xác định. Có thể do chấn thương, do nghề nghiệp, do bệnh lý toàn thân hoặc do nhiễm khuẩn. Biểu hiện lâm sàng có thể cấp tính, bán cấp hoặc mạn tính, tổn thương có thể một hoặc nhiều vị trí. Chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng. Siêu âm, Xquang, chụp cộng hưởng từ giúp cho chẩn đoán xác định những trường hợp không điển hình. Các loại viêm gân và bao gân nói chung có diễn biến lành tính, có thể tự khỏi trong vài tuần hoặc vài tháng nhưng cũng dễ bị tái phát; một sô” trưòng hợp có biến chứng đứt gân, chèn ép thần kinh kề cận. Có nhiều phương pháp điều trị bệnh lý phần mềm quanh khớp song điều trị chủ yếu bằng nội khoa. Các phương pháp này bao gồm hạn chê” vận động, dùng thuốc chống viêm không steroid, tiêm corticoid tại chỗ, vật lý trị liệu. Điều trị nội khoa thường có kết quả tốt, chỉ một sô” ít trường hợp cần chỉ định phẫu thuật. Phần dưới đây trình bày các bệnh phần mềm quanh khớp thường gặp nhất.

Viên quanh khớp

Định nghĩa

Từ năm 1981 Wefling và nhiều tác giả đã thống nhất rằng viêm quanh khớp vai là một danh từ bao gồm tất cả mọi trường hợp đau và hạn chế vận động của khớp vai mà tổn thương tại các cấu trúc phần mềm quanh khớp bao gồm gân, cơ, dây chằng và bao khớp. Đây không phải là tổn thương khốp vai chính thức. Viêm quanh khớp vai không bao gồm những tổn thương đặc thù của xương, các chấn thương. Thuật ngữ này mô tả một cách toàn thể chứ không phải là chẩn đoán đặc hiệu và nó cũng không nói lên cụ thể vị trí tổn thương cũng như là mức độ của bệnh. Có bôn thể viêm quanh khớp vai:

— Đau vai đơn thuần (thường do viêm bán cấp các gân quanh khớp vai).

  • Đau vai cấp (hoặc viêm quanh khớp vai cấp).
  • Giả liệt khớp vai (do đứt gân).
  • Cứng khớp vai (đau do loạn dưỡng khớp vai).

Nhắc lại giải phẫu khớp vai

Khớp vai là một khớp lớn gồm nhiều khớp tham gia. Khớp vai gồm bôh thành phần: (1): khớp vai chính thức, bao gồm khớp ức đòn; khớp cùng vai – đòn; diện trượt bả vai ngực; khớp ổ chảo — cánh tay; (2): Khớp vai thứ hai: là phần dưới cùng vai — mỏm quạ. Đây chính là phần bị tổn thương trong viêm quanh khớp vai. Phần này bao gồm: Phần cơ — xương ở nông: cơ delta ỏ phía ngoài, mỏm cùng vai và dây chằng cùng vai — mỏm quạ ỏ trên. Phần cơ — gân ở sâu: được tạo bởi mũ gân cơ quay ngắn của vai, có gân cơ nhị đầu dài đi ngang qua. Mũ các gân cơ quay ngắn thực sự là một “phần nối” của đầu xương cánh tay trong ổ chảo của xương bả. Mũ này được cấu tạo bởi các gân: gân trên gai ỏ trên; gân cơ ngực nhỏ và gân cơ dưới gai ở sau và gân cơ dưới gai ỏ dưới và ở trước. Các gân này tập hợp lại và được đính một cách chặt chẽ vào cực trên của bao khớp. Giữa các phần nông và sâu là túi thanh mạc dưới mỏm cùng cơ delta; (3): Khớp ổ chảo — xương cánh tay; (4): gân cơ nhị đầu dài, ỏ phần bò trên của ổ chảo.

Các mốc giải phẫu trên phim Xquang thẳng và nghiêng

  1. Khe khớp vai
  2. Xương sườn
  3. Mỏm quạ
  4. Mỏm cùng vai
  5. Xương đòn
  6. Đầu trên (chỏm) X cánh tay
  7. Ổ chảo
  8. Xương đòn
  9. Mỏm quạ
  10. Mỏm cùng vai
  11. Xương sườn
  12. Đầu trên (chỏm) X cánh tay
  13. Xương bả vai
  14. Xương cánh tay

Chức năng của khớp vai- cánh tay (khớp vai) cho phép thực hiện nhiều động tác, với biên độ vận động rất lớn. Nhờ vậy, cánh tay có thể xoay theo ba chiều trong không gian: đó là các động tác đưa ra trước, ra sau, lên trên, dang tay, xoay trong, xoay ngoài.

Các cơ tại khớp vai

Cơ delta đi từ gai vai, 1/3 ngoài xương đòn tới ấn delta ỏ xựơng cánh tay, cơ này có tác dụng nâng vai, giạng cánh tay, xoay cánh tay vào trong hay ra ngoài.

Cơ ngực to, cơ lưng to, cơ tròn to: đi từ ngực hoặc lưng tới hai mép của rãnh cơ nhị đầu xương cánh tay, có tác dụng khép và xoay cánh tay vào trong.

Cơ nhị đầu gồm có hai bó. Bó ngắn đi từ mỏm quạ; bó dài đi từ diện trên ổ chảo đi qua rãnh nhị đầu rồi hợp với bó ngắn bám tận vào lồi củ xương quay, có tác dụng gấp cẳng tay vào cánh tay.

Cơ trên gai, cơ dưới gai, cơ tròn nhỏ: đi từ hố” trên gai, hố dưới gai, cạnh ngoài xương bả vai tới mấu chuyển lốn xương cánh tay, có tác dụng xoay cánh tay ra ngoài.

Cơ dưới bả vai đi từ mặt trước xương bả vai tới mấu động nhỏ, có tác dụng xoay cánh tay vào trong.

Mủ của các cơ xoay (rotato cuff) do gân của các cơ trên gai, cơ dưới gai, cơ tròn nhỏ, cơ dưối vai hợp thành. Mũ của các cơ xoay (rotato cuff) bao bọc chỏm xương cánh tay và rất hay bị tổn thương.

— Hệ thống dây chằng khớp vai

Dây chằng ổ chảo — cánh tay: đi từ ổ chảo đến đầu trên xương cánh tay gồm có các dây trên, giữa, dưới.

Dây chẳng cùng — quạ: đi từ mỏm cùng đến mỏm quạ.

Dây chằng quạ — đòn: đi từ mỏm quạ tới xương đòn.

Dây chằng quạ — cánh tay: đi từ mỏm quạ tới đầu trên xương cánh tay.

Bao khốp đi từ gò ổ chảo đến cổ giải phẫu (đường nối giữa mấu động lốn và mấu động nhỏ của xương cánh tay.

Câu tạo cơ tại khớp vai

  1. Mũ cơ quay
  2. Mỏm cùng vai
  3. Xương đòn
  4. Cơ trên gai
  5. Cơ nhị đầu cánh tay
  6. Xương cánh tay
  7. Cơ dưới vai

Các mốc giải phẫu chính trên phim cộng hưởng từ khớp vai

  1. Mỏm quạ       Cơ dưới vai
  2. Xương đòn.  Gân dài cơ nhị đầu
  3. Đầu trên xương cánh tay 8. Cơ thang
  4. Ổ chảo Cơ Delta
  5. Mạch nách 10. Cơ dưới gai

Hệ thống bao thanh mạc dưới mỏm cùng bao gồm bao thanh mạc dưới mỏm cùng và bao thanh mạc dưới cơ delta, nằm giữa cơ delta và chụp của các cơ xoay, khi bị tổn thương bao thanh mạc sẽ làm hạn chế vận động của khớp vai.

— Hệ thống mạch máu và thần kinh khớp vai

Các thành phần của khớp vai được nuôi dưỡng bởi các ngành bên và ngành tận của bó mạch, thần kinh cánh tay. Ngoài ra, vùng khớp vai còn liên quan đến các rễ thần kinh vùng cổ, ngực và các hạch giao cảm cổ. ở đây có các đường phản xạ ngắn, vì vậy khi có một tổn thương các đốt sông cổ, ngực thì đều có thể kích thích gây biểu hiện ở khớp vai.

bai thuoc chua thoat vi dia dem

thuốc khớp glucosamine

thuốc chữa xương khớp