Trang chủ Bệnh loãng xương

Bệnh loãng xương

12/10/2016

Đại cương

Từ nửa đầu thế kỷ XVIII, nhà giải phẫu học J. Martin Lostein đã đề cập đến khái niệm về bệnh loãng xương. Năm 1930 – 1940, Albright là người đầu tiên đưa ra khái niệm loãng xương là sự calci hoá không đầy đủ ở khung xương. Sau đó nhò sự tiến bộ trong kỹ thuật thăm dò hình thái và tổ chức học của xương, các công trình nghiên cứu của Bordier và Meunier đưa ra định nghĩa: loãng xương là sự giảm toàn bộ khối lượng xương. Sau đó, định nghĩa loãng xương chính thức được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thông nhất năm 1993 và sửa đổi năm 2001. Các khái niệm về loãng xương ban đầu chỉ nêu các loãng xương liên quan tối tình trạng mãn kinh ở phụ nữ, sau đó các nguyên nhân gây loãng xương sinh lý và bệnh lý, các yếu tô” nguy cơ đã được nghiên cứu. Các thuốc điều trị loãng xương ngày các được ứng dụng trên lâm sàng và đem lại nhiều kết quả khả quan.

Định nghĩa và phân loại loãng xương

  1.  Định nghĩa loãng xương
  • Định nghĩa của WHO (World Health Organizatỉon) — 1993

Loãng xương là một bệnh lý của xương, được đặc trưng bởi sự giảm khối lượng xương kèm theo hư biến cấu trúc của xương, dẫn đến tăng tính dễ gãy của xương, tức là có nguy cơ gãy xương. Do vậy, cần đo mật độ xương để đánh giá nguy cơ gãy xương.

  • Định nghĩa của WHO—2001

Loãng xương được đặc trưng bởi sự thay đổi sức mạnh của xương. Sức mạnh này được đặc trưng bởi mật độ xương và chất lượng của xương. Chất lượng xương được đánh giá bởi các thông sô”: cấu trúc của xương, chu chuyển xương (turnover rate), độ khoáng hoá, tổn thương tích luỹ (damage accumulation), tính chất của các chất cơ bản của xương. Trong các thông sô” này, chu chuyển xương đóng một vai trò quan trọng. Chúng ta đều biết, quá trình huỷ và tạo xương luôn liên tục diễn ra trong cơ thể, nếu quá trình này cân bằng thì mật độ xương sẽ bình thường. Nếu quá trình hủy xương lớn hơn tạo xương hoặc quá trình tạo xương thấp hơn huỷ xương sẽ dẫn đến sự loãng xương. Tuy nhiên, nếu quá trình huỷ và tạo xương cân bằng nhưng diễn ra quá nhanh (chu chuyển xương nhanh) thì gây ra giảm sức mạnh của xương. Có thể ví như con đường được lát bằng xi măng, lúc chưa khô thì sức chịu lực rất kém. Do vậy, sức mạnh của xương là một thông số rất quan trọng, thậm chí còn quan trọng hơn cả mật độ xương. Các thông số về sức mạnh của xương hiện đang được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm để tìm ra các chỉ số có thể ứng dụng trên lâm sàng. Hiện nay, mật độ xương vẫn là tiêu chuẩn vàng để đánh giá sốm nhất tình trạng loãng xương trên lâm sàng.

  1. Phân loại loãng xương

Theo nguyên nhân, loãng xương được chia làm hai loại là loãng xương nguyên phát và thứ phát. Loãng xương nguyên phát lại được chia thành 2 typ: loãng xương sau mãn kinh (typ 1) và loãng xương tuổi già (typ 2). Loãng xương sau mãn kinh thường gặp ỏ phụ nữ sau mãn kinh hoặc phụ nữ sau cắt bỏ buồng trứng khoảng 5-10 năm, liên quan đến sự thiếu hụt oestrogen. Loãng xương tuổi già xuất hiện cả ở nam và nữ trên 70 tuổi.

  • Khái niệm về loãng xương nguyên phát

Loãng xương nguyên phát là loại loãng xương không tìm thấy căn nguyên nào khác ngoài tuổi tác và / hoặc tình trạng mãn kinh ở phụ nữ. Nguyên nhân do quá trình lão hoá của tạo cốt bào, làm xuất hiện tình trạng mất cân bằng giữa huỷ và tạo xương, gây nên thiểu sản xương.

Loãng xương nguyên phát typ 1 (hoặc loãng xương sau mãn kinh): nguyên nhân là do sự thiếu hụt oestrogen. Loại loãng xương này thường gặp ở phụ nữ khoảng từ 50 — 60 tuổi, đã mãn kinh. Tổn thương chủ yếu là mất chất khoáng ở xương xốp (xương bè), biểu hiện bằng sự lún các đốt sông hoặc gãy xương Pouteau—Colles. Loãng xương nhóm này thường xuất hiện sau mãn kinh từ 5 — 15 năm. Nguyên nhân của loãng xương typ 1, ngoài sự thiếu hụt oestrogen ra, còn có sự giảm tiết hormon cận giáp trạng, tăng thải calci qua nước tiểu, suy giảm hoạt động enzym 25-OH—Vitamin Dla hydroxylase.

Loãng xương nguyên phát typ 2 (hoặc loãng xương tuổi già): tình trạng loãng xương liên quan tới tuổi tác và với sự mất cân bằng tạo xương. Loại này xuất hiện cả 0 nam và nữ, thường trên 70 tuổi. Mất chất khoáng toàn thể cả xương xốp (xương bè) và xương đặc (xương vỏ). Biểu hiện chủ yếu là gãy cổ xương đùi, xuất hiện muộn thường sau 75 tuổi cả ở nam và nữ. Loại loãng xương này liên quan tới hai yếu tô” quan trọng là giảm hấp thu calci, giảm chức năng tạo cốt bào dẫn tới cường cận giáp thứ phát.

  • Loãng xương thứ phát

Loãng xương thứ phát là loậi loãng xương tìm thấy nguyên nhân do một số bệnh hoặc một sô” thuốc gây nên. Thường gặp triệu chứng loãng xương trong các bệnh suy sinh dục, cường vỏ thượng thận, dùng nội tiết tô” vỏ thượng thận kéo dài, cường cận giáp, cường giáp, rối loạn hấp thu, thiếu calci, bất động dài ngày, điều trị bằng heparin kéo dài.

đau nhức xương khớp dùng thuốc gì

triệu chứng đau thắt lưng

đau thắt lưng cột sống

Sơ đồ trang web | Chính sách bảo mật | Liên hệ
Designed by Pridio.

Lên trên